có không ít các trường hợp tranh chấp, kiện tụng liên quan đến chính những điều khoản trong hợp đồng mà các bên đã ngồi lại đàm phán lên xuống không biết bao nhiêu lần. Bên mua nhận không đúng chủng loại, chất lượng hàng hoá,... Bên bán chịu nhiều tổn thất do chưa chuyển quyền sở hữu hàng hoá,... Đây được gọi là những rủi ro khi thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá. Vậy tại sao chúng ta không nhận thức, phân tích tỉ mỉ các khả năng xảy ra ngay tại khâu đàm phán, giao kết hợp đồng để tránh tranh chấp hoặc thiệt hại khi hợp đồng đang hoặc đã được thực hiện ? Về cơ bản, không phải tình huống nào chúng ta cũng có thể lường trước được như tình hình thời tiết hay tình hình dịch bệnh,... Do vậy, phương án tốt nhất là nhận diện một cách toàn diện nhất các rủi ro cơ bản có ảnh hưởng tới hiệu lực hợp đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên,... để từ đó dự trù các điều khoản có lợi nhất cho mình. Bài viết dưới đây sẽ đưa ra một số nội dung về nhận diện rủi ro cũng như các biện pháp quản trị rủi ro ngay từ khâu đàm phán giao kết hợp đồng.
1. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hoá (HĐ MBHH) tuy không được chỉ mặt gọi tên trong Bộ luật Dân sự mà được quy định trong Luật Thương mại nhưng thực chất nó cũng là một trong số các loại hợp đồng dân sự nói chung, có cùng bản chất với Hợp đồng mua bán tài sản - chế định được quy định trong Bộ luật Dân sự. Hợp đồng mua bán hàng hoá là hình thức pháp lý của quan hệ thương mại mua bán hàng hoá, là căn cứ chứng minh có hoạt động mua bán và là cơ sở để giải quyết tranh chấp trong quá trình thực hiện hoạt động mua bán này.
Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá
Xuất phát từ quan hệ thương mại, hợp đồng mua bán hàng hoá mang một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, hợp đồng mua bán hàng hoá thường được giao kết bởi các chủ thể là thương nhân hoặc có ít nhất một bên là thương nhân;
Thứ hai, hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Đối với loại hợp đồng có quy định về hình thức thì phải tuân thủ quy định pháp luật về hình thức đó.
Thứ ba, hàng hoá là đối tượng của hợp đồng bao gồm tất cả các loại tài sản được phép lưu thông không thuộc danh mục hành hoá cấm linh doanh.
Phân loại hợp đồng mua bán hàng hoá.
- Căn cứ vào phạm vi về không gian địa lý, có thể chia hợp đồng mua bán hàng hoá thành Hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước và Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế;
- Căn cứ vào cách thức thực hiện hợp đồng gồm Hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá và Hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường (không qua Sở giao dịch mua bán hàng hoá);
Trong đó, hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước là hợp đồng mà các bên thực hiện các hoạt động, giao dịch mua bán hàng hoá trên lãnh thổ Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, theo quy định của Luật thương mại là hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương trong đó thể hiện việc mua bán hàng hoá bằng các hình thức: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu hàng hoá. Mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá là việc các bên thỏa thuận thực hiện mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở Giao dịch hàng hóa theo những tiêu chuẩn của Sở Giao dịch hàng hóa với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai.
2. Nội dung pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá
Chủ thể hợp đồng: Hợp đồng mua bán hàng hoá được thực hiện chủ yếu giữa các thương nhân. Nếu các bên không phải là thương nhân sẽ trở thành hợp đồng mua bán tài sản dân sự thông thường.
Nội dung hợp đồng mua bán hàng hoá: Thực chất, không có một quy định cụ thể tập hợp các nội dung cơ bản của một hợp đồng mua bán hàng hoá cần những gì mà các nội dung này nằm rải rác ở các điều luật. Và trong một số trường hợp buộc phải tuân theo một biểu mẫu hợp đồng có sẵn thì các bên mới không sợ bỏ thiếu nội dung quan trọng nào. Về cơ bản, nội dung hợp đồng mua bán hàng hoá hay bất kỳ hợp đồng nào cũng đều bao gồm tất cả các vấn đề mà hai bên đã thoả thuận được.
Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá: Theo quy định của Luật Thương mại, hợp đồng mua bán hàng hoá có thể được thiết lập dưới hình thức bằng lời nói, bằng hành vi cụ thể hoặc bằng văn bản. Luật cho phép hầu hết các trường hợp thương nhân được thoả thuận với nhau về hình thức hợp đồng. Nhưng Luật cũng buộc các bên phải tuân thủ một hình thức nhất định khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong một số trường hợp đặc biệt. Như: Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được lập thành văn bản hoặc hình thức có giá trị pháp lý tương đương,...
Quy định về thực hiện hợp đồng: Đây là các quy định nhằm bảo đảm cho việc hợp đồng mua bán hàng hoá đã giao kết được thực hiện trong thực tế. Đây là các quy định buộc các bên phải tôn trọng quyền của đối phương và thực hiện đúng nghĩa vụ mình đã cam kết. Nếu xảy ra tranh chấp hoặc kiện tụng, các quy định về giải quyết tranh chấp sẽ được sử dụng và cùng với đó là các chế tài sẽ được áp dụng đối với bên vi phạm cam kết.
3. Nhận diện rủi ro ảnh hưởng đến thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá
Rủi ro trong lĩnh vực mua bán hàng hoá này thông thường là những thiệt hại, mất mát, hư hỏng liên quan tới hàng hoá, vi phạm nghĩa vụ do sơ hở từ những điều khoản không chặt chẽ trong hợp đồng đã giao kết hoặc nghiêm trọng hơn là chấm dứt hợp đồng, hợp đồng vô hiệu,... Cụ thể có thể kể tới như: Hàng nông sản bị mốc sau khi giao tới tay người mua; Hàng hoá đúng tên những khác loại so với thoả thuận; ...
Nguyên nhân xuất hiện rủi ro này có thể phân chia thành các loại như sau:
Thứ nhất, nguyên nhân chủ quan từ chính các bên trong hợp đồng mua bán. Nguyên nhân này thường kể tới như bên mua không thoả thuận chi tiết về hàng hoá cần mua, các bên không thoả thuận rõ ràng về thời gian, địa điểm giao hàng và chuyển giao rủi ro hàng hoá; các bên không thoả thuận những điều khoản bất khả kháng hoặc các điều khoản loại trừ trách nhiệm,... Nhìn chung, về phía chủ quan là do một hoặc cả hai bên không nghiên cứu và chuẩn bị đầy đủ các điều khoản để bảo vệ quyền, ích hợp pháp của chính mình.
Thứ hai, nguyên nhân khách quan. Đây là những nguyên nhân đến từ bên ngoài như thời tiết, khí hậu, thiên tai, pháp luật, chính sách giá, chính sách khác liên quan tới hoạt động mua bán hàng hoá thay đổi dẫn đến ảnh hưởng tới việc thực hiện hợp đồng mua bán. Ví dụ: hàng hoá khi giao kết là hàng hoá được phép kinh doanh như sau khi giao hàng đợt 1, chuẩn bị tới đợt hai lại trở thành hàng hoá hạn chế kinh doanh; hoặc do tình hình dịch bệnh không thể nhập - xuất khẩu hàng hoá theo thoả thuận,...
Bản chất của việc nhận diện nguyên nhân rủi ro này để các bên có cái nhìn bao quát, toàn diện để phác thảo ra các nội dung đúng, trúng và hiệu quả để bảo vệ quyền lợi của mình.
4. Các biện pháp quản trị rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hoá
Nhận diện được nguyên nhân, chúng ta sẽ có các biện pháp quản lý rủi ro một cách hợp lý. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, việc quản trị rủi ro thực ra là việc dự đoán trước các tình huống xấu, rà soát kỹ lưỡng các điều khoản để tránh bất lợi. Đây không phải là công cụ loại bỏ toàn bộ những tình huống xấu có thể xuất hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng. Một số biện pháp quản trị rủi ro đối với hợp đồng mua bán hàng hoá thường được lưu ý là:
Thứ nhất, kiểm soát rủi ro về việc hợp đồng mua bán hàng hoá vô hiệu
Các bên cần lưu ý kết hợp tra cứu toàn bộ các quy định pháp luật có liên quan tới hợp đồng mua bán hàng hoá cả luật chung và luật chuyên ngành để tìm kiếm quy định về các điều kiện có hiệu lực hoặc điều kiện làm hợp đồng bị tuyên là vô hiệu. Các quy định này chủ yêu xoay quanh các vấn đề:
- Chủ thể giao kết hợp đồng có tư cách chủ thể, có đủ năng lực hành vi dân sự, thương mại hay không. Khi xem xét vấn đề này, có thể bắt đầu từ các tài liệu chứng minh tư cách thương nhân như giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, giấy uỷ quyền,...)
- Đối tượng hợp đồng mua bán. Đối tượng này tất nhiên là hàng hoá. Các bên cần lưu ý. Là hàng hoá thông thường được phép lưu thông hay là hàng hoá hạn chế kinh doanh hoặc hàng hoá kinh doanh có điều kiện để chuẩn bị giấy phép cho đầy đủ. Trường hợp mua bán hàng hoá có điều kiện mà thương nhân bán không đủ điều kiện kinh doanh hàng hoá đó có thể khiến hợp đồng mua bán này bị tuyên vô hiệu. Do vậy, các bên cần lưu ý vấn đề này.
- Kiểm tra nội dung, mục đích của hợp đồng mua bán xem có vi phạm pháp luật, vi phạm điều cấm, vi phạm đạo đức hay không (kiểm tra các nội dung khác sau khi rà soát đối tượng của hợp đồng);
- Kiểm tra hình thức của hợp đồng mua bán. Đối với những hợp đồng mua bán hàng hoá có quy định về hình thức pháp lý bắt buộc thì các bên phải tuân theo quy định đó.
Thứ hai, rà soát kỹ các điều khoản trong hợp đồng
Để làm được điều này, trước khi tiến hành đàm phán giao kết hợp đồng, các bên cần lên sẵn dự thảo các điều khoản theo ý riêng của mình trước. Khi tiến hành đàm phán, điều khoản nào không thích hợp sẽ không đưa vào hợp đồng. Các bên cần chú ý rà soát kỹ tính hợp pháp, hợp lý của các điều khoản trong hợp đồng và khả năng thực hiện được trên thực tế của thoả thuận đạt được. Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá, các điều khoản cần lưu ý gồm:
- Điều khoản mô tả về hàng hoá - đối tượng của hợp đồng. Đảm bảo gọi tên, mô tả đúng về tên gọi, chất lượng, chủng loại, số lượng, đặc tính,... của hàng hoá.
- Điều khoản về giá cả - cần quy định rõ giá theo thời giá hay giá cố định, đơn vị tính, hình thức thanh toán, thời hạn thanh toán,...
- Điều khoản về thời gian giao hàng, địa điểm giao hàng, thời điểm chuyển rủi ro về hàng hoá.
- Rà soát các trường hợp bất khả kháng và loại trừ trách nhiệm được quy định trong hợp đồng, chấm dứt hợp đồng.
- Các điều khoản về giải quyết tranh chấp.
- Điều khoản về phạt vi phạm nghĩa vụ, bồi thường hoặc xử lý tài sản bảo đảm như thế nào.
5. Xử lý trong trường hợp rủi ro vẫn xảy ra
Thực tế có không ít trường hợp dù đã lường trước và chuẩn bị đầy đủ những vẫn xảy ra các tình huống không mong đợi. Người bán giao không đúng hàng hoá mô tả, người mua chậm thanh toán, thanh toán không đúng hạn; thiên tai dịch bệnh xảy ra ảnh hưởng tới việc thực hiện hợp đồng. Vậy trong những trường hợp thế này, ta cần làm gì?
Căn cứ đầu tiên để xác định phương án giải quyết khi xảy ra các sự kiện rủi ro đó chính là hợp đồng mua bán, cụ thể cần xem xét kỹ lại từng điều khoản theo từng vụ việc xảy ra. Người bán giao sai hàng thì đối chiếu lại mô tả trong điều khoản về đối tượng hàng hoá hoặc phụ lục đi kèm (nếu có). Người mua chậm thanh toán thì xem điều khoản về thời hạn thanh toán và các trường hợp được thanh toán muộn (nếu có); trường hợp người mua muốn kiện ra toà này, người bán muốn kiện ra toàn kia xem lại điều khoản thoả thuận giải quyết tranh chấp.
Từ hợp đồng đã giao kết, các bên căn cứ vào đó để đàm phán phương án giải quyết phù hợp nhất. Trường hợp không giải quyết được bằng thương lượng hai bên, dựa vào điều khoản giải quyết tranh chấp, các bên lựa chọn hoà giải bằng trọng tài thương mại hoặc khởi kiện vụ án.
Trân trọng!