1. Phiên tòa xét xử sơ thẩm

1.1. Xét xử sơ thẩm là gì?

Xét xử sơ thẩm là việc vụ án lần đầu tiên được đưa ra xét xử tại tòa án có thẩm quyền xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trách nhiệm của các bên liên quan đến vụ án xét xử.

Xét xử sơ thẩm có thể hiểu là thủ tục pháp lý được quy định trong nhiều quan hệ xã hội như: dân sự, hình sự, hành chính, kinh tế, quân sự,… Đối với mỗi quan hệ sẽ được pháp luật quy định trình tự, thủ tục thực hiện xét xử sơ thẩm khác nhau.

Thực hiện việc xét xử sơ thẩm, hội đồng xét xử sẽ tiến hành kiểm tra, xem xét các tài liệu, chứng cứ của một vụ án một cách toàn diện, khách quan, áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án.

Hình thức xét xử sơ thẩm được thực hiện theo hình thức công khai trừ một số trường hợp vụ án liên quan tới bí mật quốc gia, người bị hại là đối tượng dễ bị tổn thương,…

1.2. Phiên tòa xét xử sơ thẩm là gì?

Phiên tòa xét xử sơ thẩm là phiên tòa xét xử lần đầu tiên của một vụ án tại cơ quan tiến hành tố tụng, theo quy định của pháp luật, trường hợp hòa giải không thành, tòa án sẽ mở phiên tòa sơ thẩm để xét xử giải quyết tranh chấp.

Phiên tòa sơ thẩm là hoạt động tố tụng phổ biến được thể hiện đặc trưng nhất của hình thức tố tụng tòa án.

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm có thể là một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân hoặc hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân tùy theo tính chất đơn giản hay phức tạp của việc tranh chấp.

2. Quy định về bản án dân sự

Bản án dân sự phản ánh kết quả xét xử một vụ án dân sự cụ thể của một toà án có thẩm quyền nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam để đưa ra các quyết định của toà án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án.

>> Xem thêm:  Phiên tòa là gì ? Quy định pháp luật về phiên tòa ?

Bản án dân sự có hai loại: Bản án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự phúc thẩm.

Bản án dân sự sơ thẩm là văn bản tố tụng do hội đồng xét xử sơ thẩm lập, thể hiện quyết định của toà án về xét xử vụ án dân sự lần đầu. Bản án dân sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, bản án dân sự sơ thẩm gồm có: phần mở đầu; phần nội dung vụ án và nhận định của toà án; phần quyết định. Trong phần mở đầu ghi tên toà án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lí vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên hội đồng xét xử, thư kí toà án, kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đối tượng tranh chấp; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử, xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử. Trong phần nội dung vụ án và nhận định của toà án ghi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, khởi kiện của cơ quan, tổ chức; đề nghị, yêu cầu phản tố của bị đơn; đề nghị, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhận định của toà án; điểm, khoản và điều luật của văn bản quy phạm pháp luật mà toà án căn cứ để giải quyết vụ án. Trong nhận định của toà án phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, để nghị của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong phần quyết định phải ghi rõ các quyết định của toà án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghỉ rõ quyết định đó.

Bản án dân sự phúc thẩm là văn bản tố tụng do hội đồng xét xử phúc thẩm lập, thể hiện quyết định của toà án về xét xử lại vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Theo quy định tại Điều 279 Bộ luật tố tụng dân sự, bản án phúc thẩm gồm có: phần mở đầu; phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và nhận định của toà án; phần quyết định. Trong phần mở đầu ghi tên của toà án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lí vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên hội đồng xét xử, thư kí phiên toà, kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; người kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử. Trong phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và nhận định của toà án tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị; nhận định của toà án cấp phúc thẩm; điểm, khoản và điều của văn bản quy phạm pháp luật mà toà án cấp phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án. Trong nhận định của toà án cấp phúc thẩm phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị. Trong phần quyết định phải ghi rõ các quyết định của toà án cấp phúc thẩm về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án do có kháng cáo, kháng nghị, về việc phải chịu án phí sơ thẩm, phúc thẩm.

Văn bản ghi nhận phán quyết của Toà án sau khi xét xử một vụ án hành chính. Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, bản án hành chính phải có các nội dung sau đây: ngày, tháng, năm, địa điểm tyến hành phiên toà; họ, tên thành viên hội đồng xét xử, kiểm sát viên, thư kí phiên toà; tên, địa chỉ của các đương sự, người đại diện của họ; yêu cầu của các đương sự; những tình tyết đã được chứng minh, những chứng cứ, căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án; các quyết định của toà án; án phí, người phải chịu án phí; quyền kháng cáo của đương sự. Đối với bản án phúc thẩm, ngoài các nội dung nêu trên, còn phải nêu rõ phần quyết định của bản án bị kháng cáo hoặc kháng nghị, nội dung kháng cáo, kháng nghị và quyết định của toà án cấp phúc thẩm. Bản án của Hội đồng xét xử phải được chủ toạ phiên toà công bố toàn văn. Bản sao bản án phải được gửi cho đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra bản án.

3. Bản án dân sự sơ thẩm là gì?

Bản án sơ thẩm dân sự là văn kiện được tuyên nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khi có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành (Điều 106 Hiến pháp năm 2013, Điều 12 Luật tổ chức Tòa án Nhân dân 2014 và Điều 19 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).

Bản án kết thúc toàn bộ quá trình tố tụng xét xử, xác định những vấn đề chủ yếu của vụ án cần phải giải quyết. Đối với các vụ án dân sự, bản án phân tích chính xác những quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và tòa án đưa ra phán quyết có tình, có lí. Bản án giúp cho mọi người nhận thức rõ đường lối và pháp luật được vận dụng vào thực tiễn. Bản án là công cụ bảo vệ chế độ, bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân. Bản án có tác dụng giáo dục đương sự, giáo dục quần chúng tin tưởng vào hoạt động xét xử, nâng cao ý thức pháp luật, góp phần củng cố, xác lập nếp sống mới trong xã hội. Vì vậy, bản án phải được hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.

Cơ cấu bản án gồm có ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định, phần quyết định của tòa án. Trong từng phần của bản án, tòa án phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

4. Sửa chữa, bổ sung bản án

Trong trường hợp phát hiện trong bản án cồ sai sót thì theo hướng dẫn tại Điều 38 Nghị quyết số 05/2012/NQ- HĐTP ngày 03-12-2012 củá Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử chỉ được sửa chữa, bổ sung bản án trong các trường hợp sau đây:

>> Xem thêm:  Hoãn phiên tòa là gì ? Tìm hiểu về hoãn phiên tòa hình sự, dân sự

- Phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả như: lỗi do viết không đúng từ ngữ, dấu, chữ viết hoa, viết thường, phiên âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, bỏ sót không ghi tên đệm trong họ, tên của đương sự...

- Số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai (kể cả án phí) như: cộng, trừ, nhân, chia sai..., mà phải sửa lại cho đúng.

Tòa án phải gửi văn bản thông báo về việc sửa chữa, bổ sung bản án cho những người quy định tại khoản 1 Điều 268 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành. Thông báo về việc sửa chữa, bổ sung bản án phải làm đúng theo mẫu ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP nói trên.

Trên thực tế, đã có trường hợp chủ tọa phiên tòa ký thông báo đính chính bản án, nhưng nội dung đính chính làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định, việc làm đó là vi phạm nghiêm trọng tố tụng.

Việc sửa chữa, bổ sung bản án phải do Thẩm phán phôi hợp với Hội thẩm nhân dân là thành viên Hội đồng xét xử vụ án đó thực hiện. Việc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa tự tiện sửa chữa, bổ sung bản án mà không có ý kiến của Hội thẩip nhân dân, hoặc đã phát hành bản án sau đó thấy cần sửa chữa, bổ sung lại phát hành bản án khác dù cùng số, cùng ngày hay khác số, cùng một ngày, tháng, năm đều là việc làm vi phạm tố tụng.

Trong trường hợp Thẩm phán tham gia xét xử vụ án không còn đảm nhận chức vụ Thẩm phán thì Chánh án Tòa án đương nhiệm thực hiện việc sửa chữa, bổ sung.

5. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án và cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó.

Tòa án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án thông báo tiến độ, kết quả thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Cơ quan thi hành án trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án có trách nhiệm trả lời cho Tòa án.

>> Xem thêm:  Chứng minh trong tố tụng dân sự là gì ? Quy định về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự theo Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành?

>> Xem thêm:  Hủy bản án, quyết định của Tòa án là gì ? Các trường hợp Toà án tuyên huỷ bản án, quyết định của Toà án?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Chủ thể tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự?

Trả lời:

– Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm gồm có: nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người đại diện của đương sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; người làm chứng; người giám định; người phiên dịch.

– Ngoài ra chủ thể tham gia phiên tòa gồm có người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Những người tiến hành tố tụng được quy định tại điều 63 bộ luật tố tụng dân sựnăm 2015, gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân. Việc thay thế thành viên của hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt không thể tham gia xét xử vụ án được quy định tại điều 266 bộ luật tố tụng dân sự  năm 2015. Cụ thể

– Theo quy định tại khoản 2 điều 21 bộ luật tố tụng dân sự  năm 2015 viện kiểm sát phải cử kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với những vụ án do tòa án thu thập chứng hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, quyền sử dụng đất nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần.

Câu hỏi: Khái niệm về nghị án?

Trả lời:

Nghị án không có khái niệm được quy định cụ thể như thế nào. Tuy nhiên, ta có thể tạm hiểu nghị án là việc hội đồng xét xử thảo luận và quyết định các vấn đề của vụ án.

Nghị án được Bộ luật tố tụng dân sự quy định tại Điều 236 và Điều 237. Theo Điều 236 Bộ luật tố tụng dân sự, việc nghị án được tiến hành tại phòng riêng, chỉ có các thành viên của hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc nghị án bí mật, nguyên tắc thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tránh tình trạng thư kí Tòa án và Kiểm sát viên cũng có mặt trong phòng nghị án khi nghị án.

Câu hỏi: Khái niệm về tuyên án?

Trả lời:

Sau khi bản án đã được thông qua, Hội đồng xét xử trở lại phòng xét án để tuyên án. Bộ luật tố tụng dân sự quy định về hoạt động tuyên án tại Điều 267.

Tuyên án có thể hiểu là việc Tòa án sau khi làm việc theo thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, sau khi phân tích để làm rõ vụ việc thì đưa ra kết quả của việc xét xử đó đối với người vi phạm quy định pháp luật.