1. Khái niệm về người khuyết tật
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật 2010 quy định:
“1. Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”
Như vậy, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Tại Điều 3 Luật Người khuyết tật 2010 quy định về Dạng tật và mức độ khuyết tật:
“1. Dạng tật bao gồm:
a) Khuyết tật vận động;
b) Khuyết tật nghe, nói;
c) Khuyết tật nhìn;
d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần;
đ) Khuyết tật trí tuệ;
e) Khuyết tật khác.
2. Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:
a) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
b) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
c) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này”.
2. Khái niệm về công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"
3. Khái niệm về truyền thông
Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị. Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa 2 hoặc nhiều thành viên (máy móc, sinh vật hoặc các bộ phận của chúng).
Truyền thông đòi hỏi phải có một người gửi, một tin nhắn, một phương tiện truyền tải và người nhận, mặc dù người nhận không cần phải có mặt hoặc nhận thức về ý định của người gửi để giao tiếp tại thời điểm việc truyền thông này diễn ra; do đó thông tin liên lạc có thể xảy ra trên những khoảng cách lớn trong thời gian và không gian. Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻ một khu vực dành riêng cho thông tin được truyền tải. Quá trình giao tiếp được coi là hoàn thành khi người nhận hiểu thông điệp của người gửi.
4. Quy định của pháp luật hiện hành về công nghệ thông tin và truyền thông đối với người khuyết tật
Đối với người khuyết tật, công nghệ thông tin có thể giúp họ phát huy được vai trò đóng góp cho sự phát triển xã hội. Người khuyết tật ở một số dạng nhất định như khiếm thính, khiếm thị thường gặp khó khăn hơn trong việc học tập và trao đổi thông tin với xã hội bên ngoài, bởi người khiếm thị thông thường chỉ có thể đọc thông tin qua hệ thống chữ nổi, trong khi hầu hết các tài liệu đều không có ở dạng này. Tuy nhiên công nghệ thông tin và truyền thông có thể giúp họ tháo gỡ, khắc phục được những khó khăn này, thậm chí họ có thể tìm được việc làm phù hợp để kiếm thêm thu nhập. Ngoài ra, công nghệ thông tin còn có thể là công cụ làm tăng khả năng phục hồi, khắc phục khiếm khuyết ở người khuyết tật. Với người chậm phát triển về não, các trò chơi trên máy tính giúp cho sự phát triển của trí óc do kích thích sự tư duy,vận động suy nghĩ,…
Bên cạnh công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông một mặt phản ánh thông tin cần thiết về người khuyết tật trên mọi lĩnh vực đến cộng đồng, mặt khác cũng cung cấp thông tin từ đời sống cộng đồng đến với người khuyết tật, nếu họ có khả năng tiếp nhận hoặc được hỗ trợ phương tiện tiếp cận thuận tiện. Chất lượng đời sống tinh thần của người khuyết tật qua đó được nâng lên. Xuất phát từ vai trò đó của công nghệ thông tin và truyền thông, pháp luật đã xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc khuyến khích các hoạt động nhằm hỗ trợ sự tiếp cận công nghệ thông tin của người khuyết tật. Theo đó, Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong 3 lĩnh vực công nghệ thông tin ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin dành cho người khuyết tật. Nhà nước có chính sách miễn, giảm thuế, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi và hỗ trợ khác cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất, cung cấp dịch vụ, phương tiện hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông; hỗ trợ việc thu nhập, biên soạn và xuất bản tài liệu in chữ nổi Braille dành cho người khuyết tật nhìn, tài liệu đọc dành cho người khuyết tật nghe, nói và khuyết tật trí tuệ. Theo Điều 43 Luật người khuyết tật :
“ Điều 43. Công nghệ thông tin và truyền thông
1. Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin dành cho người khuyết tật.
2. Cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của người khuyết tật. Đài truyền hình Việt Nam có trách nhiệm thực hiện chương trình phát sóng có phụ đề tiếng Việt và ngôn ngữ ký hiệu dành cho người khuyết tật theo quy định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông. 3.Nhà nước có chính sách miễn, giảm thuế, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi và hỗ trợ khác cho hoạt động nghiên cứu, chế tạo, sản xuất và cung cấp dịch vụ, phương tiện hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông; hỗ trợ việc thu thập, biên soạn và xuất bản tài liệu in chữ nổi Braille dành cho người khuyết tật nhìn, tài liệu đọc dành cho người khuyết tật nghe, nói và người khuyết tật trí tuệ.”
Luật công nghệ thông tin năm 2006 cũng nhấn mạnh việc Nhà nước có chính sách ưu đãi để tổ chức, các nhân có hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đối với người khuyết tật:
“a) Nghiên cứu - phát triển các công cụ và ứng dụng nhằm nâng cao khả năng của người tàn tật trong việc truy nhập, sử dụng các nguồn thông tin và tri thức thông qua sử dụng máy tính và cơ sở hạ tầng thông tin;
b) Sản xuất, cung cấp công nghệ, thiết bị, dịch vụ, ứng dụng công nghệ thông tin và nội dung thông tin số đáp ứng nhu cầu đặc biệt của người tàn tật.”
Ngày 14/9/2009, Bộ thông tin và truyền thông ban hành Thông tư số 28/2009/TT-BTTTT quy định về việc áp dụng tiêu chuẩn, công nghệ hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Ban hành kèm theo Thông tư này là “ Danh mục tiêu chuẩn hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Ban hành kèm theo thông tư này là “ Danh mục tiêu chuẩn hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông”. Các tiêu chuẩn hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông được quy định áp dụng theo hai hình thức : bắt buộc áp dụng và khuyến nghị áp dụng. Trong lĩnh vực truyền thông, cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của người khuyết tật để cộng đồng nắm bắt được thông tin về bộ phận cư dân đặc biệt này. Ngược lại, để người khuyết tật có thể tiếp cận được thông tin, Đài truyền hình Việt Nam có trách nhiệm thực hiện chương trình phát sóng có phụ đề tiếng Việt và ngôn ngữ ký hiệu cho người khuyết tật. Các Đài truyền hình trung ương được cấp phép phủ sóng toàn quốc có trách nhiệm áp dụng công nghệ hỗ trợ người khiếm thính tiếp cận chương trình thời sự chính trị tổng hợp phát hành hàng ngày tối thiểu trên một kênh. Đối với các đài truyền hình thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đài truyền hình có diện phủ sóng khu vực, nhà nước khuyến khích áp dụng công nghệ hỗ trợ người khiếm thính.
Tóm lại, công nghệ thông tin nói chung dù được phát triển khá mạnh mẽ nhưng vẫn là lĩnh vực tương đối mới mẻ ở nước ta. Tuy vậy, ở mức độ nhất định, pháp luật đã có những quy định cụ thể nhằm tạo điều kiện để người khuyết tật có thể tiếp cận với lĩnh vực hiện đại này, đảm bảo quyền hòa nhập cộng đồng của họ.
5. Thực tiễn thực hiện ở Việt Nam :
Thời gian vừa qua, thực hiện Thông tư số 28/2009/TT-BTTTT ngày 14/9/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông, tất cả các ngành, các cấp và cả các doanh nghiệp đã và đang triển khai tích cực các biện pháp giúp người khuyết tật hòa nhập với cuộc sống, trong đó có việc tiếp cận và ứng dụng công nghệ thông tin vào cuộc sống. Hàng năm Bộ Thông tin và truyền thông đều tổ chức giải thưởng Hiệp sỹ công nghệ thông tin để vinh danh những người khuyết tật có đóng góp cho việc đưa công nghệ thông tin đến với người khuyết tật và những người khuyết tật có thành tích trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, sự thành công của việc phát triển phần mềm hỗ trợ âm thanh Braille giúp người mù có thể dùng được máy tính do công ty Sytec phối hợp với nhóm sinh viên của Đại học Bách Khoa TP.HCM. Sau đó là phần mềm NDC để có thể soạn thảo tiếng Việt... Vào ngày 10/10/2003 Đài truyền hình Việt Nam đã chính thức phát chương trình thời sự đầu tiên dành cho người khiếm thính trên sóng VTV2 với thời lượng 45 phút. Ngoài hình ảnh và lời của phát thanh viên, trên màn hình tivi còn có dòng phụ đề để những người khiếm thính có thể theo dõi được. Trung bình cứ 10 giây hình thì truyền tải được 1 đến 2 dòng phụ đề. Đây chính là bản tin thời sự phát trên sóng VTV1 lúc 19h hằng ngày, nhưng nội dung đã được biên tập cho phù hợp. Theo những người làm chương trình, với các tin chính trị, kinh tế sẽ khó khăn trong việc truyền tải bởi số lượng chữ phụ đề sẽ nhiều và người khiếm thính khó tiếp nhận. Vì thế các biên tập viên phải biên tập cho ngắn gọn hơn. Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình thúc đẩy công nghệ thông tin – truyền thông cho người khuyết tật vẫn còn vấp phải nhiều hạn chế. Như việc chọn việc làm cho người khuyết tật yêu thích công nghệ thông tin rất khó khăn bởi đa số việc làm liên quan đến lĩnh vực này đều đòi hỏi sự linh hoạt, đây là một đòi hỏi khó khăn đối với người khuyết tật, mặt khác nhiều cơ quan của Nhà nước vẫn còn e ngại tiếp nhận lao động khuyết tật, có những phần việc có thể ưu tiên cho người khuyết tật nhưng người khuyết tật vẫn chưa được tiếp nhận… Vì vậy, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các doanh nghiệp, cá nhân cần tạo mọi điều kiện khắc phục tình trạng này, giúp người khuyết tật có cơ hội tiếp cận CNTT – TT nhiều hơn nữa trong tương lai.