Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật dân sự năm 2015

Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11

Luật tố cáo năm 2011

Luật nhà ở số 65/2014/QH13 của Quốc hội

2. Luật sư tư vấn:

Tôi muốn hỏi các luật sư thế này: Ngày 10/6/2014. Y gửi đơn tố cáo đến Chủ tịch UBND huyện với nội dung như sau: 1. Tố cáo ông A là chủ biên xây dựng cơ bản nghiệm thu công trình xây dựng nhà vi phạm trình tự thủ tục. 2. Tố cáo ông B phòng Tài nguyên môi trường sách nhiễu trong việc làm thủ tục thuế đất, đòi tiền bồi thường. Vậy các vấn đề trên sẽ xử lý như thế nào?

Căn cứ quy định Luật Tố cáo năm 2011:

Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. 

>> Xem thêm:  Giám định tỷ lệ thương tật khi bị tai nạn giao thông ? Bồi thường thiệt hại khi bị tai nạn

Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.

Việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo trình tự sau đây:

1. Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo;

2. Xác minh nội dung tố cáo;

3. Kết luận nội dung tố cáo;

4. Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo;

5. Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo.

Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn thời hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày.

Luật sư ơi cho em hỏi một sự việc như sau. Xe tải nhà em đang đi đúng phần đường của mình và đi với tốc độ chậm. Tầm 30km, xe máy đi ngược chiều sang phần đường xe tải nhà em. Lái xe nhà em đã đánh xe sát lê đường nhưng họ vẫn tông vào xe em văng ra rồi bất tỉnh. Đã chữa trị nay đã ra viện. Xin luật sư tư vấn cho gia đình em . Bên em có lỗi không, khi thỏa thuận bồi thường thì gia đình em phải bồi thường như thế nào. Mong luật sư quan tâm giúp đỡ. Em cảm ơn.

Theo quy định tại điều 601 BLDS năm 2015 về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ngoài ra, theo điều 17 Luật Giao thông đường bộ năm 2008: "Trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình".

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì xe tải đã đi với tốc độ chậm, và thực hiện đúng luật giao thông đường bộ về tránh xe đi ngược chiều. Đối với bồi thường do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì chủ sở hữu phải bồi thường ngay cả khi có lỗi. Tuy nhiên, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì không phải bồi thường. 

Trong trường hợp này, có thể thấy người điều khiển xe máy đã không chấp hành luật khi đi ở phần đường ngược chiều, đi vào phần đường của xe ngược chiều, vì vậy việc đâm vào xe của bạn là do cố ý. Như vậy bạn không phải bồi thường với thiệt hại này.

Ngày 25/05/2016 trong lúc trực ca tôi có đánh rơi một cái ví tiền, cùng ngày hôm đó có một cán bộ cũng đánh rơi ví tiền, khoảng 8h30' tôi đi kiểm tra khu vực công ty thi nhặt lại được ví tiền của mình nhưng cán bộ đó lại nói là tôi nhặt được ví tiền của cán bộ và yêu cầu tôi bồi thường, Cammera quan sát quay được lúc tôi nhặt ví tiềnnhưng tôi nói là không phải của cán bộ đó, cán bộ gọi cho công an bắt tạm giữ tôi. Vậy tôi phải làm gì?

Căn cứ điều 86 BLTTHS năm 2003:

1. Tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.

>> Xem thêm:  Gây ra tai nạn giao thông trong năm 2020 thì phải bồi thường những gì ?

2. Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này, Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ.

Người thi hành quyết định tạm giữ phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

Quyết định tạm giữ phải ghi rõ lý do tạm giữ, ngày hết hạn tạm giữ và phải giao cho người bị tạm giữ một bản.

Thời hạn tạm giữ không quá 3 ngày, trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

Quyền của người bị tạm giữ (điều 48 BLTTHS 2003):

a) Được biết lý do mình bị tạm giữ;

b) Được giải thích về quyền và nghĩa vụ;

c) Trình bày lời khai;

d) Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;

>> Xem thêm:  Trách nhiệm bồi thường khi nhà xe làm mất hành lý của khách hàng ?

đ) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

e) Khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

3. Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về tạm giữ theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, bạn có thể thực hiện các quyền trên để bảo vệ quyền lợi của mình.

Đầu tháng 8/2016 mình có thuê 2 gian nhà cấp 4 với giá 7 triệu/ tháng. Vì bên cho thuê chưa muốn ký hợp đồng mà chỉ viết giấy biên nhận là đã nhận đủ số tiền mình trả 4 tháng tiền nhà là 28 triệu. Nhưng vì lý do kinh tế mình không đủ tiền thuê 2 gian, mình xin bên chủ hộ chỉ thuê 1 gian nhưng bên chủ hộ không đồng ý. Nên mình mới nói với bên chủ nhà là mình không thuê nữa và cho mình xin lại số tiên trên. Mình thông báo với bên chủ nhà là mình không thuê nữa gần cuối tháng 8/2016. Trong khoảng thời gian đấy đến giờ mình không thể liên lạc được với chủ nhà để thỏa thuận. Mới hôm qua mình mới tìm được và đến tận nhà chủ nhà nói chuyện. Bên chủ nhà đòi bồi thường nửa tháng tiền nhà là 3,5tr.Xin hỏi bên cho thuê đòi bồi thường vậy có đúng không và mình nên làm thế nào.

Theo quy định của BLDS 2015 tại điều 472:

Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê.

Hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Các quy định của BLDS, Luật nhà ở và pháp luật có liên quan khi giải quyết về thuê tài sản nói chung và thuê nhà nói riêng đều căn cứ vào hợp đồng mà các bên thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên, trong trường hợp này giữa bạn (bên thuê) và chủ nhà (bên cho thuê) không hề có hợp đồng, mà chỉ có văn bản thỏa thuận về việc bên cho thuê nhận 28 triệu, và không có bất kỳ thỏa thuận nào về việc bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm.

Vì vậy, bên thuê và bên cho thuê cần thỏa thuận lại đối với việc thuê nhà để giải quyết quyền lợi cho cả hai bên. 

Cháu là sinh viên năm đầu, khi chưa hết hạn hợp đồng, cháu chấm dứt hợp đồng thuê nhà với chủ nhà thì phải bồi thường cho chủ nhà là bao nhiêu?

Căn cứ Luật Nhà ở 2014 bạn có thể chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn trong hai trường hợp:

>> Xem thêm:  Chủ cửa hàng có phải bồi thường khi khách hàng mất xe khi vào mua hàng ?

- Thứ nhất: thỏa thuận với bên thuê nhà

- Thứ hai: đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở khi bên cho thuê thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Không sửa chữa nhà ở khi có hư hỏng nặng;

b) Tăng giá thuê nhà ở bất hợp lý hoặc tăng giá thuê mà không thông báo cho bên thuê nhà ở biết trước theo thỏa thuận;

c) Khi quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba.

Ngoài ra, Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở phải thông báo cho bên kia biết trước ít nhất 30 ngày, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; nếu vi phạm quy định tại khoản này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Đối với việc có phải bồi thường hay không thì cần căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng giữa bạn và chủ nhà.

Tôi đọc Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì người tiêu dùng không có được quyền gì, nếu người tiêu dùng không phát hiện mà ăn phải sản phẩm kém chất lượng thì người tiêu dùng bị ảnh hưởng sức khỏe về lâu dài. Vậy khi quyền của người tiêu dùng bị xâm phạm thì phải bảo vệ như thế nào?

Luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng có quy định rất cụ thể về quyền lợi cũng như nghĩa vụ của người tiêu dùng, theo đó người tiêu dùng có quyền:

" 1. Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp.

2. Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng.

>> Xem thêm:  Tư vấn về đòi đền bù mất xe ? Yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường tài sản bị mất

...

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan..."

Hơn nữa theo quy định tại Nghi định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 124/2015/NĐ-CP, tại mục 10 cũng quy định cụ thể mức xử phạt về các hành vi vi phạm về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nếu thương lượng, hòa giả không thành còn được giải quyết thông qua Trọng tài, Tòa án. 

Vì vậy, không thể khẳng định rằng Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không quy định gì về quyền lợi người tiêu dùng. Bạn có thể nghiên cứu lại và tham khảo thêm các văn bản liên quan về vấn đề này.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Khách đến mua hàng bị mất xe, ai là người chịu trách nhiệm ? Thủ tục khởi kiện