1. Khái niệm Điều ước quốc tế 

Theo Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế quy định: “Điều ước quốc tế là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của các văn kiện đó".

Theo quy định của pháp luật Việt Nam: Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa  xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc các chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, hiệp định, ước định, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác.

2. Phân loại Điều ước quốc tế

- Căn cứ vào phạm vi áp dụng Điều ước quốc tế, Điều ước quốc tế được phân loại thành

  •     Điều ước quốc tế phổ cập: Là các điều ước quốc tế có sự ký kết hoặc tham gia của tuyệt đại đa số các quốc gia trên thế giới. Ví dụ như Hiến chương Liên Hợp Quốc, Công ước luật biển năm 1982,...
  •       Điều ước quốc tế khu vực: Là các điều ước quốc tế có sự ký kết và tham gia của các quốc gia trong một khu vực địa lý nhất định. Ví dụ:  Các điều ước quốc tế điều chỉnh mối quan hệ của các quốc gai trong Liên minh Châu Âu ( EU),....
  • Điều ước quốc tế song phương: Là các điều ước quốc tế điều chỉnh mối quan hệ, giữa hai quốc gia hoặc giữa một quốc gia với chủ thể của luật quốc tế

- Căn cứ vào chủ thể kết ước, Điều ước quốc tế được phân loại thành:

  •    Điều ước quốc tế song phương
  •    Điều ước quốc tế đa phương:Là điều ước quốc tế có sự tham gia ký kết của ba quốc gia trở lên. Trong số các điều ước quốc tế đa phương có điều ước taonf cầu và điều ước khu vực

- Căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh của Điều ước quốc tế, Điều ước quốc tế được phân loại thành:

  • Điều ước quốc té về chính trị, về các vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, lãnh thổ
  • Điều ước quốc tế về kinh tế. Ví dụ như WTO ( Hiệp định tổ chức thương mại thế giới)
  • Điều ước về văn hóa- khoa học- ký thuật.

3. Hiệu lực của Điều ước quốc tế

3.1 Xác định hiệu lực của Điều ước quốc tế

Hiệu lực của Điều ước quốc tế được xác định theo không gian và theo thời gian, cụ thể như sau:

- Tất cả các quy định của điều ước chỉ có giá trị bắt buộc các bên tham gia trong quan hệ đối với các sự kiện và hành vi xảy ra thuộc thời gian điều ước có hiệu lực, nghĩa là từ thời điểm bắt đầu điều ước có hiệu lực đến thời điểm điều ước hết hiệu lực

- Điều ước có hiệu lực có nghĩa là văn bản điều ước được tính từ thời điểm nào đó trở thành văn bản pháp lý có giá trị ràng buộc các bên tham gia

- Điều ước có hiệu lực khi thực hiện đúng thủ tục và điều kiện nhất định ghi trong điều ước, nếu như các bên tham gia điều ước không có các thỏa thuận khác. Điều ước có thể có hiệu lực tạm thời trước khi có hiệu lực chính theo thỏa thuận của các bên và được ghi ngay trong điều ước. Nếu trong văn bản điều ước không trực tiếp quy định điều kiện và thời điều bắt đầu có hiệu lực của điều ước thì theo tập quán quốc tế điều ước sẽ có hiệu lực từ khi trao đổi thư phê chuẩn. Riêng đối với điều ước không cần phê chuẩn thì thì hiệu lực của nó được tính từ thời điểm ký chính thức điều ước

- Đối với điều ước nhiều bên các bên thường thống nhất quy định số thành viên tham gia cần thiết để điều ước bắt đầu có hiệu lực. Nhưng nếu khi điều ước có hiệu lực rồi mà số thành viên của điều ước giảm xuống quá mức quy định thì điều ước vẫn có hiệu lực

- Công ước viên ănm 1969 quy định: “ Trừ khi có một quy định nào khác được thể hiện trong điều ước, ngoài ra điều ước sẽ không có hiệu lực hồi tố, nghĩa là các điều ước chỉ có hiệu lực pháp lý bắt buộc với các bên sau thời điểm có hiệu lực. Tuy nhiên cũng có trường hợp các bên của điều ước thỏa thuận với nhau áp dụng điều ước vào việc điều chỉnh các vụ kiện, hiện tượng và hành vi xảy ra trước khi điều ước có hiệu lực”.

3.2 Điều kiện để Điều ước quốc tế có hiệu lực

Căn cứ theo các quy định của Công ước Viên năm 1969 quy định về điều kiện có hiệu lực của Điều ước quốc tế, cụ thể như sau:

- Nội dung của điều ước phải phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại

- Các chủ thể ký kết điều ước phải có thẩm quyền tham gia ký kết điều ước

- Điều ước được hình thành không phải trên cơ sở của sự lừa dối, nhầm lẫn, hối lộ, cưỡng ép, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực

3.3 Thời gian có hiệu lực của Điều ước quốc tế

Được chia làm hai loại

- Điều ước có thời hạn: Là điều ước có quy định khoảng thời gian mà nó có giá trị pháp lý thi hành. Phần lớn điều ước quốc tế là điều ước có thời hạn. Thông thường các hiệp định chính trị có hiệu lực tương đối lâu, 10,20, đến 25 năm trở lên, còn các hiệp định về kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật có thời gian ngắn hơn, khoảng 1- 5 năm

- Điều ước không có thời hạn là điều ước chỉ quy định thời điểm bắt đầu có hiệu lực mà không quy định thời điểm nó hết hiệu lực. Thông thường đây là những điều ước phổ cập có ý nghĩa lớn, định những quy phạm mang tính chất chung của luật quốc tế.

4. Hiệu lực của Điều ước quốc tế đối với nước thứ ba

Theo nguyên tắc chung, Điều ước quốc tế không thể tạo ra các quyền và nghĩa vụ ràng buộc đối với quốc gia thứ ba ( quốc gia không phải là thành viên của điều ước). Điều ước chỉ có thể hình thành quyền và nghĩa vụ cho quốc gia thứ ba khi điều ước này được quốc gia thứ ba chấp thuận rõ ràng bằng văn bản ( Điều 34,35,36 Công ước viên năm 1969)

Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt Điều ước quốc tế mang tính chất cưỡng chế ( chế tài ) đối với các hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, chống lại nền hòa bình và an ninh thế giới có thể có quy định về nghĩa vụ cho quốc gia thứ ba mà không cần sự chấp thuận của quốc gia đó. Luật quốc tế nói chung và điều ước quốc tế nói riêng được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận. Vì vậy nếu một chủ thể của luật quốc tế không tham gia vào quá trình thỏa thuận thì về nguyên tắc họ cũng không chịu sự ràng buộc của những điều ước quốc tế đó. Án lệ quốc tế cũng đã chấp nhận nguyên tắc này

Theo lý luận và thực tiễn quan hệ quốc tế, Điều ước quốc tế có thể phát sinh hiệu lực với quốc gia thứ ba trong các trường hợp sau:

  • Điều ước có điều khoản tối huệ quốc: Đây là điều khoản có nội dung: khi các bên ký kết dành cho quốc gia thứ ba những quyền lợi và ưu đãi thì phải dành cho bên ký kết còn lại sự đối xử không kém phần thuận lợi hơn xự đối xử dành cho quốc gia thứ ba. Mực đích của điều khoản tối huệ quốc nhằm bảo đảm sự đối xử công bằng và tránh sự phân biệt đối xử trong quan giữa các quốc gia. Đây là nội dung của một trong những nguyên tắc nền tảng của luật quốc tế hiện đại – nguyên tắc tối huệ quốc
  • Điều ước tạo ra các hoàn cảnh khách quan: Đây là những điều ước không những ấn định quyền và nghĩa vụ của quốc gia ký kết mà còn ấn định những quy tắc có hiệu lực đối với quốc gia khác. Những hiệp định đó được ký giữa một quốc gia nhưng có hiệu lực đối với tất cả các quốc gia còn lại.

5. Các trường hợp chấm dứt hiệu lực của Điều ước quốc tế

Điều ước chấm dứt hiệu lực là điều ước không còn giá trị ràng bộc các bên tham gia và không có khả năng làm nảy sinh quyền và nghĩa vụ đối với các bên nữa. Phần lớn các điều ước tế chấm dứt hiệu lực khi nó hết thời hạn có hiệu lực.

Ngoài ra còn có các trường hợp sau:

- Bãi bỏ điều ước quốc tế: Đây là hành động đơn phương của một bên, trong khuân khổ điều ước quy định, tuyên bố điều ước chấm dứt hiệu lực đối với bên đó. Như vậy chỉ được bãi bỏ điều ước trong điều kiện điều ước cho phép mà thôi. Nếu điều ước không quy định, việc bãi bỏ điều ước cũng có thể tiến hành khi các bên tham gia đồng ý cho phép hoặc căn cứ vào tính chất của điều ước cũng có thể thấy rõ là các bên cho phép được bãi bỏ điều ước đó. Luật pháp từng nước quy đinh cơ quan nào của mình có quyền tuyên bố bãi bỏ điều ước

- Hủy bỏ điều ước quốc tế: Đây là hành đông đơn phương của một bên tuyên bố điều ước chấm dứt hiệu lực đối với mình mà không cần có sự quy định của điều ước nào. Cơ sở để tuyên bố hủy bỏ:

  • Một bên hay nhiều bên tham gia đã vi phạm cơ bản điều ước thì bên khác có quyền tuyên bố hủy bỏ ( điều 60 công ước viên năm 1969 )
  • Không còn khả năng thực hiện điều ước nữa do đối tượng gắn liền với việc thi hành điều ước đã không còn tồn tại hoặc hủy bỏ
  • Xuất hiện sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh dẫn đến việc không thưc hiện điều ước trong trường hợp hoàn cảnh này là cơ sở chủ yếu để các quốc gia chấp nhận sự ràng buộc của điều ước và ảnh hưởng của sự thay đổi làm thay đổi cơ bản phạm vi các nghĩa vụ còn lại phải thực hiện
  • Do việc cắt đứt quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự giữa các quốc gia thành viên. Trong trường hợp việc tồn tại quan hệ ngoại hoặc lãnh sư giữa các quốc gia thành viên là không thể thiếu được khi thi hành điều ước thì khi quan hệ này bi cắt đứt các quốc gia có thể tuyên bố hủy bỏ điều ước

- Xuất hiện quy phạm mệnh lệnh mới trong luật quốc tế

- Chấm dứt hiệu lực của điều ước do tất cả các quốc gia thành viên của điều ước này sau đó đã ký kết một điều ước khác về cùng một đối tượng điều chỉnh, khi đó điều ước có trước sẽ bị chấm dứt hiệu lực

Luật pháp của mỗi quốc gia quy định cơ quan nào của nước mình có quyền tuyên bố hủy bỏ điều ước. Thông thường cơ quan nào có quyền phê chuẩn, phê duyệt điều ước đó sẽ có quyền chấm dứt hiệu lực của điều ước. Nước ta cơ quan có thẩm quyền tuyên bố chấm dứt hiệu lực của điều ước là Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm & biên tập)