1. Định nghĩa về hợp đồng mua bán quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thể hiểu là hợp đồng mua bán hàng hoá có tính chất quốc tế. Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế sẽ khác nhau theo quan điểm của luật pháp từng quốc gia.

Theo điều 1 Công ước Viên năm 1980 tính chất quốc tế được xác định chỉ bởi một tiêu chuẩn nhất định, đó là các bên giao kết hợp đồng “có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau”. Công ước cũng không quan tâm đến vấn đề về quốc tịch của các bên khi xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên được gọi là bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là bên nhập khẩu và thanh toán; và bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho bên xuất khẩu, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận giữa các bên.

 

2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán quốc tế

- Chủ thể của hợp đồng: Bên xuất khẩu và Bên nhập khẩu. Đó là các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau.

- Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận ý chí của các bên.

- Đối tượng của hợp đồng là hàng hoá di chuyển qua biên giới hải quan của một nước.

- Đồng tiền tính giá hoặc thanh toán không còn là đồng nội tệ của một quốc gia mà là ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết. Phương thức thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng.

- Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng do các bên thỏa thuận, đó có thể là luật quốc gia ,điều ước quốc tế  hoặc tập quán thương mại quốc tế.

- Cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là toà án hay trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại là cơ quan nước ngoài đối với ít nhất một trong các chủ thể.

 

3. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thể hiện về thỏa thuận biểu hiện ý chí tự nguyện của các chủ thể, nhằm ấn định  quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên đối với nhau được ghi nhận tại các điều khoản trong hợp đồng mà các bên kí kết. Tuy nhiên, không phải bất cứ nội dung nào do các bên thỏa thuận đưa vào hợp đồng cũng được coi là hợp pháp. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ hợp pháp về mặt nội dung khi nó chứa đựng những điều khoản phù hợp với quy định pháp luật.

Mặc dù pháp luật không quy định, tuy nhiên từ thực tiễn kí kết và thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và cũng để tránh các tranh chấp có thể phát sinh, thiết nghĩ rằng, khi các bên kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần thiết phải thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng các điều khoản cơ bản và quan trọng, vì đó chính là cơ sở pháp lí để ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên.

Các điều khoản đó bao gồm nhưng không chỉ bao gồm:

- Một là, về đối tượng của hợp đồng: đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hàng hóa. Trong hợp đồng hàng hóa phải được ghi cụ thể, chính xác tên thường gọi đối với hàng hóa đó, có kèm theo tên thương mại hoặc tên khoa học (nếu có) và đặc biệt cần phải quy định rõ về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa. Bởi vì có thể cùng một loại hàng hóa nhưng nếu có nguồn gốc xuất xứ từ những nơi không giống nhau thì điều chắc chắn đó là phẩm chất của hàng hóa sẽ khác nhau.

- Hai là, về số lượng hoặc khối lượng của hàng hóa: đây là điều khoản quan trọng  vì nó sẽ liên quan đến vấn đề giao thừa hoặc thiếu hàng. Từ thực tiễn, các bên cần ghi rõ số lượng hàng hóa được mua bán, tuy nhiên các bên không nên ghi rõ số lượng bằng một con số cố định cụ thể. Mà nên thỏa thuận theo phương pháp dung sai. Có nghĩa là số lượng hàng hóa có thể giảm (-) hoặc tăng (+) theo một tỉ lệ phần trăm (%) nhất định.

- Ba là, về phẩm chất hàng hóa: việc xác định phẩm chất hàng hóa phải được quy định cụ thể thông qua việc mô tả theo hình dạng, màu sắc, kích thước, hoặc xác định bởi đặc tính lí hóa của nó, hoặc theo theo một tiêu chuẩn nhất định, hoặc theo một mẫu nhất định đối với hàng hóa đó. Đây là một điều hết sức quan trọng vì cùng một loại hàng hóa nhưng nếu theo tiêu chuẩn ở khu vực này thì đáp ứng yêu cầu nhưng ở khu vực khác thì lại không đáp ứng. Chính vì vậy các bên cần phải thỏa thuận rõ chất lượng của hàng hóa sẽ được đánh giá dựa trên tiêu chuẩn nào, nhằm tránh những hiểu lầm tai hại

- Bốn là, về điều khoản giá cả hàng hóa: giá cả là một điều khoản cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nên các bên cần phải thỏa thuận và quy định cụ thể. Đặc biệt nếu hợp đồng được thực hiện trong một thời gian dài, thì các bên nên có thỏa thuận quy định vấn đề về biến động giá cả, theo đó các bên có thể tiến hành đàm phán lại giá cả trong trường hợp sự biến động giá cả có thể gây thiệt hại cho một trong các bên. Đây là một quy định cần thiết nhằm hạn chế những tổn thất lớn cho các bên khi có sự biến động về giá cả.

- Năm là, về thời hạn giao hàng: để đảm bảo quyền lợi của mình và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao nhận hàng các bên cần phải thỏa thuận cụ thể về thời gian giao hàng. Thời gian giao hàng có thể được các bên ấn định vào một thời điểm cụ thể hoặc vào một thời gian cụ thể. Tuy nhiên nếu trong hợp đồng có thỏa thuận về giao hàng nhiều lần thì các bên nên quy định cụ thể về từng lần giao hàng, nhằm tránh trường hợp không thực hiện việc giao hàng nhưng không thể ràng buộc nghĩa vụ vì không đủ cơ sở pháp lí

- Sáu là, về phương thức giao hàng: Đây là một điều khoản cực kì quan trọng vì nó liên quan đến các vấn đề như: thuê phương tiện vận chuyển,  bảo hiểm hàng hóa, đặc biệt liên quan đến việc xác định thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu và rủi ro đối với hàng hóa từ người bán sang người mua. Trong thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế khi thỏa thuận về phương thức giao hàng các bên thường sử dụng các điều kiện giao hàng được quy định trong tập quán thương mại INCOTERMS. “Thông thường, điều kiện giao hàng phụ thuộc phần lớn vào khả năng của người bán. Đối với những người có khả năng tài chính dồi dào, có nhiều kinh nghiệm trên thương trường thì giao hàng với điều kiện CIF và mua hàng với điều kiện FOB, với thương nhân Việt Nam và ngược lại, mua CIF, bán FOB.”Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh ở đây là để tránh lầm lẫn khi thỏa thuận về phương thức giao hàng các bên phải thống nhất chỉ ra sẽ áp dụng phương thức nào và nó được ghi nhận ở đâu.

- Bảy là, điều khoản về thanh toán: có thể nói thanh toán là nghĩa vụ cơ bản và quan trọng nhất của bên mua. Ngược lại đó là quyền lợi quan trọng nhất của bên bán. Cho nên các vấn đề liên quan đến điều khoản thanh toán bao gồm: phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán và địa điểm thanh toán cần được các bên thỏa thuận cụ thể. Trong thực tiễn thương mại quốc tế thì có nhiều phương thức thanh toán được các bên sử dụng, trong đó có hai phương thức thanh toán được các bên thường hay sử dụng là phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ mà phổ biến nhất là phương thức tín dụng chứng từ. Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ có hai loại: đó là tín dụng không được hủy ngang và tín dụng được hủy ngang. Phương thức tín dụng được hủy ngang ít khi được sử dụng vì độ rủi ro cao của nó. Trong phương thức thanh toán bằng tín dụng không hủy ngang có hai loại là: (i) tín dụng không hủy ngang không xác nhận. Đối với loại tín dụng này thì ngân hàng đại diện chỉ thông báo việc mở tín dụng cho người thụ hưởng, được gọi là ngân hàng thông báo, theo đó họ không chịu bất kì trách nhiệm gì và chỉ hành động theo lệnh của ngân hàng phát hành . Như thế ngân hàng đại diện không bắt buộc phải thanh toán khi người thụ hưởng xuất trình các chứng từ hàng hóa. Người thụ hưởng chỉ tin cậy vào cam kết của ngân hàng phát lệnh. Do đó tín dụng không hủy ngang không được xác nhận chỉ được xem là một phương thức thanh toán thích hợp khi những rủi ro về chính trị, kinh tế không đáng kể; (ii) tín dụng không hủy ngang được xác nhận theo loại này chính ngân hàng đại diện sẽ cam kết thanh toán, gọi là ngân hàng xác nhận (the cofirming bank). Do đó bên bán có thể xuất trình các tài liệu liệt kê trong tín dụng thư cho ngân hàng cơ sở của họ, ngân hàng này phải chi trả nếu các tài liệu phù hợp với tín dụng thư và được xuất trình trong thời hạn quy định. Như thế quyền và nghĩa vụ của bên xuất khẩu (bên bán) sẽ được bảo đảm nhiều hơn, nhất là nếu ngân hàng xác nhận lại chính là ngân hàng của họ. Đây là vấn đề các bên cần lưu ý, nhằm tránh những nhầm lẫn không đáng có.

- Tám là, điều khoản về trách nhiệm hợp đồng: Trong thực tiễn thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không phải lúc nào các bên cũng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Điều đó cũng có nghĩa là các bên có thể vi phạm nghĩa vụ của mình. Chính vì vậy nên việc quy định trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng không những có tác dụng răn đe các bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình mà còn có tác dụng bảo vệ lợi ích của bên bị thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Ngược lại, có những trường hợp việc không thực hiện được nghĩa vụ là do những sự cố khách quan, trong những trường hợp này nếu buộc bên vi phạm phải chịu trách nhiệm là không công bằng. Chính vì vậy loại trừ trách nhiệm của bên vi phạm trong những trường hợp đó là cần thiết. Vì lẽ đó các bên khi kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nên thỏa thuận quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng cũng như các trường hợp loại trừ trách nhiệm

- Chín là, điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng: Như những phần trước đã phân tích, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được điều chỉnh bởi điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, tập quán quốc tế và bởi các đạo luật mẫu. Về mặt nguyên tắc các bên có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được lựa chọn thì các quy tắc của tư pháp quốc tế được áp dụng để chọn ra hệ thống pháp luật điều chỉnh nội dung của hợp đồng khi cần thiết. Điều này sẽ dẫn tới hệ quả có thể luật được áp dụng là luật mà một trong các bên hoặc các bên chưa biết hoặc chưa nắm kĩ, như vậy nếu cuộc chiến pháp lí xảy ra bất lợi là đã rõ. Hơn nữa cùng một nội dung hợp đồng nhưng nếu áp dụng các hệ thống pháp luật khác nhau để điều chỉnh thì sẽ cho ra những hệ quả không giống nhau. Do vậy đề tránh những tranh chấp không đáng có, tốt hơn hết và an toàn hơn hết là khi các bên kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cần thỏa thuận chọn hệ thống pháp luật mà mình đã biết rõ về nó

- Mười là, điều khoản về giải quyết tranh chấp: Trong quan hệ thương mại quốc tế do nhiều nguyên nhân khác nhau như sự khác biệt về pháp luật, ngôn ngữ, tập quán…và nhất là sự thay đổi về điều kiện thực hiện hợp đồng nên các tranh chấp phát sinh giữa các bên liên quan nhiều khi là điều khó tránh khỏi. Khi phải đương đầu với các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng thương mại quốc tế các bên luôn mong muốn làm thế nào để giải quyết các tranh chấp đó một cách nhanh chóng, suôn sẻ, để đạt được hiệu quả cao nhất mà vẫn giữ được uy tín và bí mật kinh doanh. Muốn đạt được điều đó khi các bên kí kết hợp đồng cần nghiên cứu và thỏa thuận trước về cơ chế giải quyết tranh chấp như là thủ tục giải quyết tranh chấp, phương pháp giải quyết tranh chấp và cơ quan giải quyết tranh chấp. Trong thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế thì các bên thường thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và thủ tục tố tụng trọng tài.

 

4. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là vấn đề mà các doanh nghiệp Việt Nam cần đặc biệt lưu ý.
Điều 11 của Công ước Viên năm 1980 quy định rằng hợp đồng mua bán quốc tế hàng hoá có thể được ký kết bằng lời nói và không cần thiết phải tuân thủ bất kỳ yêu cầu nào khác về mặt hình thức của hợp đồng. Còn Điều 96 thì lại cho phép các quốc gia bảo lưu, không áp dụng Điều 11 trên nếu luật pháp của quốc gia đó quy định hình thức văn bản là bắt buộc đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Tuy nhiên, chúng tôi khuyến nghị Doanh nghiệp Việt Nam nên sử dụng hợp đồng bằng văn bản với các nội dung đầy đủ và chi tiết, đó sẽ là cơ sở để bảo vệ quyền lợi của chính doanh nghiệp trong quá trình giao kết hợp đồng thương mại quốc tế.