Luật sư tư vấn:

Vấn đề Bạn quan tâm, Luật Minh Khuê xin được trao đổi như sau:

 

1. Nhãn hiệu là gì ? Nhãn hiệu chứng nhận là gì ?

Theo quy định tại Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền đăng ký nhãn hiệu được xác định như sau:

Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do chính mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.

a)   Nhãn hiệu: Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau (điểm 16, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ). Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó (điểm 17 Điều 4, Luật Sở hữu trí tuệ).

b)   Nhãn hiệu chứng nhận: Là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu (điểm 18, Điều 4, Luật Sở hữu trí tuệ).

Theo quy định tại khoản 2 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và cũng không phản đối việc đăng ký đó.

 

2. Nhãn hiệu tập thể là gì ?

Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể.

Đối tượng là dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ thì tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó.

Đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản của địa phương tại Việt Nam, thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép (khoản 3 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ).

Về chính sách của Nhà nước: Tại Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định chính sách của Nhà nước đối với sở hữu trí tuệ là:

Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sô bảo đảm hài hòa lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh.

Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân về vật chất và tinh thần.

Huy động các nguổn lực của xã hội đầu tư nhằm nâng cao năng lực hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Tính đến thời điểm hiện nay (năm 2019), hệ thống các văn bản pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam tương đối đầy đủ. Trước hết, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Văn bản hợp nhất luật sở hữu trí tuệ số 07/VBHN-VPQH năm 2019). Ngoài Luật Sở hữu trí tuệ là các Nghị định của Chính phủ và các Thông tư của Bộ Khoa học và Công nghệ được ban hành, hướng dẫn thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ (Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 122/2010/NĐ-CP này 31 tháng 12 năm 2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ).

a)   Xác lập quyền bảo hộ nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý

- Xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý theo nguyên tắc xác lập quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác và được thể hiện theo nguyên tắc:

Thứ nhất, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên: Nhiều chủ thể khác nhau đăng ký các nhân hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn khi sử dụng cho sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự nhau hoặc có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì Bằng bảo hộ chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày nộp đơn sớm nhất.

Trường hợp có nhiều đơn đăng ký và đều đáp ứng điều kiện để được cấp Bằng bảo hộ, có cùng ngày ưu tiên, ngày nộp đơn sớm nhất, thì bằng bảo chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo thỏa thuận của tất cả những người cùng nộp đơn. Nếu các chủ thể cùng nộp đơn không thỏa thuận được, thì các đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp Bằng bảo hộ.

Thứ hai, nguyên tắc ưu tiên.

Nguyên tắc ưu tiên cấp Bằng bảo hộ được thể hiện như một tư tưởng chỉ đạo căn cứ vào việc nộp đơn đầu tiên đăng ký cùng môt đổi tượng:

Thứ nhất, đơn đầu tiên đã nộp tại Việt Nam hoặc tại một nước là thành viên của công ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên mà Việt Nam cũng là nước thành viên hoặc có thỏa thuận cùng áp dụng nguyên tắc ưu tiên.

Thứ hai, người nộp đơn là công dân Việt Nam hoặc công dân nước thành viên khác của điều ước quốc tế.

Thứ ba, đơn đăng ký có nội dung yêu cầu hưởng quyền ưu tiên và có bản sao của đơn xin bảo hộ đầu tiên.

Thứ tư, đơn được nộp trong thời hạn 6 tháng đối với đơn đăng ký nhãn hiệu tính từ ngày nộp đơn đầu tiên.

 

3. Sở hữu và sử dụng nhãn hiệu tập thể như thế nào ?

Chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể là tổ chức tập thể. Tổ chức tập thể là tổ chức được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật về mô hình của loại tổ chức đó. Tổ chức được thành lập theo sự tự nguyện của các thành viên theo điều lệ và các quy tắc hoạt động của tổ chức tập thể. Các tổ chức tập thể theo các mô hình phổ biến như:

-     Hiệp hội;

-     Hợp tác xã;

-     Liên hiệp các hợp tác xã;

-     Tổng công ty;

-     Tập đoàn;

-     Công ty mẹ...

Những tổ chức tập thể này được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể.

Tổ chức tập thể có quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể, cho phép các thành viên tập thể sử dụng nhãn hiệu theo quy chế chung. Các thành viên sử dung nhãn hiệu tập thể trên cơ sở được sự đồng ý của tổ chức tập thể và phải tuân thủ quy chế sử dụng.

 

4. Thời hạn bảo hộ đối với nhãn hiệu tập thể ?

Bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể được cấp trong thời hạn 10 năm kể từ ngày nộp đơn, có thể ra hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể bị chấm dứt trong các trường hợp chủ văn bằng không nộp lệ phí duy ưì hiệu lực của Bằng bảo hộ theo quy định, chủ Bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể, chủ Giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể không còn hoạt động kinh doanh mà không có người thừa kế hợp pháp, nhãn hiệu tập thể không được sử dụng hoặc không chuyển giao cho người khác sử dụng trong thời hạn 05 năm trước ngày có yêu cầu cấm dứt hiệu lực Bằng bảo hộ mà không có lý do chính đáng. Nhưng trong trường hợp viêc sử dụng nhãn hiệu này được bắt đầu lại ít nhất là 03 tháng tính đến ngày chấm dứt hiệu lực của Bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể.

Trường hợp chấm dứt hiệu lực của Bằng bảo hộ khi chủ Giấy chứng nhận không kiểm soát hoặc kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế đối với nhãn hiệu tập thể.

 

5. Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận

a) Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận cũng tương tự như như điều kiện bảo hộ nhãn hiệu tập thể. Những điều kiện bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận cụ thể:

-   Nhãn hiệu phải nhận biết được về chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc để có thể phát hiện được bằng mắt thường.

-   Nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt: Phân biệt được hàng hóa, dịch vụ cùng loại với các cơ sở kinh doanh khác nhau.

b)    Quyền nộp đơn đăng ký nhãn hiệu chứng nhận

Là chủ thể được tổ chức có thẩm quyền kiểm định xác nhận sản phẩm, dịch vụ đạt tiêu chuẩn về các đặc tính đã xác định.

c)    Quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận, phải có đủ điều kiện về tên, địa chỉ của chủ sở hữu nhãn hiệu, điều kiện để được sử dụng nhãn hiệu, các đặc tính của hàng hóa, dịch vụ được chứng nhận bởi nhãn hiệu, phương pháp đánh giá các đặc tính của hàng hóa, dich vụ; phương pháp kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu; quyền và nghĩa vụ của chủ thể sử dụng nhãn hiệu, cơ chế cấp phép, kiểm soát, kiểm tra việc sử dụng nhãn hiệu; cơ chế giải quyết tranh chấp nhãn hiệu.

d)   Đơn xin đăng ký nhãn hiệu chứng nhận phải có tính thống nhất, mỗi đơn chỉ yêu cầu cho đăng kí 01 (một) nhãn hiệu dùng cho 01 (một) hoặc nhểu hàng hóa, dịch vụ.

e)    Trong trường hợp nhãn hiệu xin đăng ký là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý, thì chủ đơn có nghĩa vụ nộp giấy phép của chính quyền địa phương: ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho phép người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu chứng nhận mang dấu hiệu chỉ dẫn địa lý như địa danh, biểu tượng, bản đồ vùng, miền, địa phương (Nghị định số 103/2006/NĐ-CP (Điều 19) sửa đổi; Điểm 37.7 Thông tư số Ol/2007/TT-BKHCN). Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu chứng nhận. Chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận cho phép các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được sử dụng nhãn hiệu chứng nhận cho hàng hóa, dịch vụ có đặc tính xác định trong quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận. Cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu sử dung nhân hiệu chứng nhận phải được chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép và phải đáp ứng các điều kiện của Quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận.

i) Bằng bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận là Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu chứng nhận có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn, được ra hạn liên tiếp nhiều lẩn, mỗi lần 10 năm.

g) Giấy chứng nhận nhãn hiệu chứng nhận bị chấm dứt hiệu lực:

-   Chủ Giấy chứng nhận không nộp lệ phí theo quy định để duy trì hiệu lực của văn bằng;

-   Chủ Giấy chứng nhận tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu chứng nhận;

-    Chủ Giấy chứng nhận nhãn hiệu chứng nhận không còn hoạt động kinh doanh mà không có người thừa kế hợp pháp;

-    Nhãn hiệu chứng nhận không được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong hạn 05 (năm) năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất 03 (ba) tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực.

Chủ Giấy chứng nhận vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận hoặc không kiểm soát hoặc có kiểm soát nhưng không có hiệu quả việc sử dụng nhãn hiệu chứng nhận theo quy chế.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vự sở hữu trí tuệ bạn có thể sử dụng: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật qua email hay Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162, hoặc có thể Đặt lịch để gặp luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng phục vụ bạn./.