1. Quy định phối hợp gửi, cung cấp thông tin, tài liệu về người phạm tội

Đây là một trong những quy định đáng chú ý của Thông tư liên tịch 03/2023/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 12 tháng 5 năm 2023, ban hành bởi Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, liên quan đến việc phối hợp thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội.

Thông tư này áp dụng cho các Cơ quan điều tra của Công an Nhân dân, Trại giam, Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân và Tòa án Nhân dân các cấp, cùng các cơ quan hồ sơ nghiệp vụ của Công an Nhân dân và các tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội.

Thông tư được chia thành 5 chương và 19 điều, tập trung nêu rõ nguyên tắc thực hiện phối hợp thông báo hoặc gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội. Cụ thể, Điều 3 đề cập đến việc thông tin và tài liệu liên quan đến người phạm tội phải được thông báo hoặc gửi đầy đủ, kịp thời, và chính xác đến Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an Nhân dân để quản lý, khai thác, sử dụng. Quy định này nhấn mạnh việc bảo đảm tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, lưu trữ theo quy định của pháp luật. Thông tin và tài liệu cung cấp phải được quản lý, sử dụng phục vụ các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự và các mục đích khác theo quy định của pháp luật và Thông tư liên tịch này.

Thông tin và tài liệu mà Viện kiểm sát Nhân dân thông báo hoặc gửi đến cơ quan hồ sơ nghiệp của Công an Nhân dân được chi tiết quy định trong Điều 6, bao gồm các loại quyết định như Quyết định khởi tố bị can, Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can, Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can do Viện kiểm sát Nhân dân ban hành, cũng như Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, cũng do Viện kiểm sát Nhân dân ban hành.

Nếu có vụ án do Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư khởi tố, điều tra và kết thúc điều tra, và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát Nhân dân có thẩm quyền để đề nghị truy tố theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 164 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung vào năm 2021), thì Viện kiểm sát Nhân dân sẽ thông báo hoặc gửi thông tin và tài liệu tương ứng theo quy định tại Điều 4 của Thông tư liên tịch này đến cơ quan hồ sơ nghiệp vụ cùng cấp.

Về khía cạnh thời hạn cung cấp thông tin và tài liệu, cơ quan hồ sơ nghiệp vụ của Công an Nhân dân đã đặt ra những quy định cụ thể như sau khi nhận được yêu cầu:

- Đối với cấp Trung ương, thời hạn trả lời không quá 07 ngày làm việc đối với yêu cầu không cần xác minh và không quá 15 ngày làm việc đối với yêu cầu cần phải xác minh.

- Đối với cấp tỉnh, thời hạn trả lời là không quá 7 ngày làm việc đối với yêu cầu không cần xác minh và không quá 15 ngày làm việc đối với yêu cầu cần phải xác minh.

- Đối với cấp huyện, thời hạn trả lời là không quá 05 ngày làm việc đối với yêu cầu không cần xác minh và không quá 10 ngày làm việc đối với yêu cầu cần phải xác minh.

Nếu có yêu cầu đọc, nghiên cứu thông tin, tài liệu tại chỗ, Cơ quan Hồ sơ nghiệp của Công an Nhân dân sẽ tiến hành cung cấp ngay mà không áp đặt thêm thời gian chờ đợi.

Trong trường hợp không thể đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an Nhân dân phải trả lời bằng văn bản và đồng thời nêu rõ lý do tại sao không thể đáp ứng được yêu cầu.

Thông tư liên tịch 03/2023/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC có hiệu lực từ ngày 1/7/2023, thay thế cho Thông tư liên tịch 05/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC được ban hành vào ngày 25 tháng 6 năm 2018.

 

2. Hiệu quả của công tác phối hợp trong thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu về người phạm tội

Công tác phối hợp giữa cơ quan Công an, Viện kiểm sát và Tòa án ở cả Trung ương và địa phương trong việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội đã đạt được nhiều kết quả đáng chú ý. Đặc biệt, Viện kiểm sát và Tòa án Nhân dân ở các cấp đã chuyển gần 1,4 triệu thông tin và tài liệu đến Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Công an, tuân thủ đúng thủ tục, thời hạn và tính pháp lý. Trong số đó, nhiều thông tin và tài liệu đạt tỷ lệ cao như Quyết định truy nã, quyết định đình nã, quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam, quyết định thi hành án phạt tù, bản cáo trạng, bản án hình sự sơ thẩm, bản án hình sự phúc thẩm, góp phần nâng cao chất lượng dữ liệu liên quan đến người phạm tội và làm sạch dữ liệu căn cước can phạm.

Công tác phối hợp trong việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội giữa ba ngành ở Trung ương và địa phương đã đạt được nhiều thành công quan trọng. Lãnh đạo liên ngành Công an, Viện kiểm sát và Tòa án tại nhiều địa phương luôn đặc biệt quan tâm và chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc. Hiện có 59/63 địa phương đã xây dựng quy chế phối hợp hoặc có hướng dẫn liên ngành để thực hiện, trong đó đề cập rõ về trách nhiệm của từng cấp và ngành trong việc thực hiện các quy định của Thông tư. Quy chế này được quán triệt đến cán bộ, chiến sĩ thuộc Cơ quan điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán và cán bộ làm công tác hồ sơ nghiệp vụ.

Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ các cấp đã tiếp nhận gần 1 triệu thông tin, tài liệu từ cơ quan điều tra trong Công an Nhân dân. Đồng thời, họ cũng tra cứu và cung cấp gần 1,7 triệu thông tin, tài liệu hỗ trợ cho công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Theo lãnh đạo Bộ Công an, trong tương lai, sẽ triển khai một quy trình đồng bộ hóa hồ sơ tài liệu, kết nối chia sẻ thông tin trên môi trường mạng. Điều này bao gồm việc chuyển từ trạng thái trao đổi và chia sẻ thông tin "thủ công" sang "điện tử", đảm bảo rằng thông tin được trao đổi thường xuyên, chính xác, kịp thời, và an toàn theo quy định. Điều này nhằm mục đích phục vụ hiệu quả cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, và an toàn xã hội.

 

3. Quy định về bảo đảm tính pháp lý của thông tin, tài liệu được thông báo, gửi liên quan đến người phạm tội

Đảm bảo tính pháp lý của thông tin và tài liệu được thông báo, gửi liên quan đến người phạm tội được chi tiết quy định tại Điều 14 của Thông tư liên tịch 03/2023/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, có hiệu lực từ ngày 01/07/2023, theo các điều sau:

- Thông tin và tài liệu được thông báo hoặc gửi, cung cấp phải tuân thủ tính pháp lý và đúng quy định của pháp luật về hình thức văn bản (bao gồm bản chính, bản sao, và bản điện tử).

- Thủ trưởng Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân có trách nhiệm duyệt, ký, và đóng dấu của cơ quan. Đồng thời, ông cũng phải duyệt, ký số của người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật trong văn bản trả lời cùng với bản sao tài liệu (nếu có). Những văn bản này sau đó sẽ được cung cấp cho cơ quan hoặc đơn vị đã gửi yêu cầu, nhằm đảm bảo giá trị pháp lý và tính chính xác của thông tin và tài liệu.

Bài viết liên quan: Mẫu Văn bản yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu trong thanh tra quản lý nhà nước 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về: Quy định phối hợp gửi, cung cấp thông tin, tài liệu về người phạm tội. Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung bài viết!