1. Tranh tụng trong tố tụng hình sự là gì?

Xét về khía cạnh thuật ngữ pháp lý, tranh tụng được hiểu theo ba nội dụng khác nhau: thứ nhất được hiểu là một mô hình tố tụng; thứ hai được hiểu là một nguyên tắc thuộc tố tụng hình sự; thứ ba được hiểu là phương thức, là giai đoạn thực hiện vai trò của các chức năng đối lập nhau và có quyền ngang nhau trong tố tụng hình sự hay còn gọi là hoạt động tranh tụng. Dù hiểu theo nghĩa nào thì tranh tụng luôn có bản chất là phương thức đi tìm sự thật khách quan của vụ án mà hoạt động tố tụng hình sự muốn hướng tới. Theo nhiều luật gia, phương thức tranh tụng là phương thức có ưu điểm nhất trong việc vừa có thể tìm ra sự thật khách quan của vụ án vừa có thể bảo vệ hữu hiệu quyền con người của người buộc tội và chống oan sai. Có thể hiểu: “Tranh tụng là việc từng bên đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hay toàn bộ quan điểm của phía bên kia”.

Với ý nghĩa là một nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, nguyên tắc tranh tụng là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho các chủ thể trong việc thực hiện quá trinh tranh cãi bình đẳng dựa trên chứng cứ, quy định của pháp luật nhằm thực hiện chức năng buộc tội hoặc chức năng bào chữa, từ đó tìm ra sự thật khách quan của vụ án . Như vậy, tranh tụng trong tố tụng hình sự thực chất là quá trình vận động tác động qua lại giữa hai chức năng cơ bản của tố tụng hình sự: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa. Chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng này được tạo điều kiện “bình đẳng” với nhau trong việc bày tỏ ý kiến và bảo vệ ý kiến của mình trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án mà đỉnh điểm của quá trình này diễn ra tại phiên tòa sơ thẩm.

2. Nguyên tắc tranh tụng trong pháp luật Việt Nam

Năm 2013 Hiến pháp mới của Việt Nam được ban hành, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, nguyên tắc tranh tụng được thừa nhận chính thức trong một văn bản pháp lý của Nhà nước, tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Đây là định hướng chỉ đạo cho việc tiếp tục quy định nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS.

Vào ngày 27/12/2015, BLTTHS đã được Quốc hội thông qua, nguyên tắc tranh tụng được thể hiện tại Điều 26 như sau: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án hình sự do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ trước Tòa án.

Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và các tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.

Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

3. Thời điểm xuất hiện tranh tụng

Trong tố tụng hình sự, việc xác định sự thật khách quan của vụ án được trải qua các giai đoạn khác nhau, trong mỗi giai đoạn có mục đích và nhiệm vụ khác nhau do các chủ thể khác nhau thực hiện. Hiện nay về việc xác định tranh tụng xuất hiện từ thời điểm nào của tố tụng hình sự có nhiều ý kiến khác nhau: Có quan điểm cho ràng, tranh tụng được bắt đầu muộn hơn thời điểm bắt đầu của quá trình tố tụng hình sự (sau khởi tố vụ án) và kết thúc sớm hơn thời điểm kết thúc của nó (khi bản án có hiệu lực pháp luật); có quan điểm lại cho rằng quá trình tranh tụng bắt đầu cùng với thời điểm bắt đầu của quá trình tố tụng hình sự (cùng với giai đoạn khởi tố vụ án); cũng có quan điểm cho rằng tranh tụng chính là tranh luận tại tòa (tranh tụng chỉ có trong giai đoạn xét xử). Các quan điểm trên đây đều đã đưa ra các lập luận của mình để bảo vệ cho quan điểm đó.

Tuy nhiên hiểu theo nghĩa thông thường nhất, tranh tụng được thể hiện tập trung, rõ nhất trong phiên xét xử vụ án và gắn liền với chức năng tài phán. Tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự, dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa và với sự tham gia của đầy đủ tất cả các chủ thể buộc tội, bào chữa. Tuy nhiên nếu chỉ nhìn nhận tranh luận tại phiên tòa là tranh tụng thì quan điểm này đã phủ nhận những quy định về quyền được tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trước khi mở phiên tòa và cả sau phiên tòa.

Nếu quan điểm tranh tụng bắt đầu cùng với giai đoạn bắt đầu của tố tụng hình sự thì cũng chưa cho thấy sự xác đáng. Bởi lẽ trong giai đoạn ban đầu của tố tụng hình sự, hoạt động khởi tố vụ án (đã xác định có dấu hiệu tội phạm) trong nhiều trường hợp khi chưa có quyết định khởi tố bị can thì cũng không xuất hiện hai lợi ích đối kháng nhau, thực hiện các chức năng tố tụng đối lập nhau là chức năng buộc tội (của nhà nước) và chức năng gỡ tội. Do đó, tranh tụng xuất hiện khi trong tố tụng hình sự xuất hiện hai chức năng tố tụng đối lập nhau của các chủ thể đó là chức năng buộc tội và chức năng bào chữa, tức là tranh tụng chỉ xuất hiện khi có sự tham gia của bên có lập trường tương phản với quan điểm của sự buộc tội.

Thống nhất với quan điểm trên, Điều 26 BLTTHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi của việc tranh tụng hơn so với quan điểm được thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng cũng như quy định của Hiến pháp 2013. Theo đó, tranh tụng được xác định cả trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đều được quyền tham gia vào quá trình tranh tụng. Đây là điểm mới, tiến bộ hơn so với Hiến pháp 2013, khi Hiến pháp chỉ quy định “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.

4. Chủ thể tranh tụng

Bản chất của hoạt động tranh tụng là sự tranh luận qua lại giữa hai bên buộc tội và bào chữa để tìm ra sự thật của vụ án. Chính vì vậy, tranh tụng chỉ đặt ra giữa bên buộc tội gồm: Cơ quan điều tra trực tiếp nhất là Điều tra viên và Viện kiểm sát, trực tiếp nhất là Kiểm sát viên và bên bào chữa gồm bị can, bị cáo và/hoặc người bào chữa.

Như vậy, tranh tụng chỉ thực sự có thể có và được bảo đảm nếu có sự phân chia các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự ra thành ba chức năng chính là: buộc tội, bào chữa và xét xử. Theo đó, Tòa án chỉ đứng ra thực hiện nhiệm vụ là “trọng tài” xem xét quá trình tranh tụng của các bên. Điều này cũng cho thấy, một số quyền hạn của Tòa án/Hội đồng xét xử theo quy định của BLTTHS hiện hành như: quyền khởi tố vụ án khi xét thấy có việc bỏ lọt tội phạm không đảm bảo nguyên tắc Tòa án chỉ là “trọng tài” trong tố tụng hình sự.

Nghiên cứu Điều 26 BLTTHS năm 2015 cho thấy, điều luật đã quy định rất rõ các chủ thể tiến hành tranh tụng trong tố tụng hình sự đó là “Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án”. Điều này đã xác định cụ thể vị trí, vai trò của các bên trong quan hệ tranh tụng tại vụ án hình sự.

5. Nội dung của hoạt động tranh tụng

Để đảm bảo nguyên tắc tranh tụng được áp dụng hiệu quả trên thực tế, bên cạnh việc BLTTHS vẫn quy định quyền thu thập, đánh giá chứng cứ cho các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng buộc tội là chủ yếu như: Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát thì Điều 26 BLTTHS cũng đã lần đầu tiên quy định bị can, bị cáo, người bào chữa có quyền đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ do cơ quan tố tụng thu thập và yêu cầu Tòa án thu thập, bổ sung chứng cứ nếu đã yêu cầu ở giai đoạn điều tra, truy tố mà không được chấp nhận. Xét về lý luận cũng như trên thực tế, việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng có nghĩa là sự đối kháng nhau của các chủ thể có các chức năng khác nhau trong tố tụng. Chính vì vậy, trong tranh tụng không thể chỉ cho phép một chủ thể được đơn phương, độc quyền trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ. Điều này là sự bảo đảm cho quá trình tranh tụng được bình đẳng và hiệu quả cao hơn. Vấn đề này đã được BLTTHS năm 2015 cụ thể hóa hơn trong các quy định về: quyền và nghĩa vụ của bị can (Điều 60), quyền và nghĩa vụ của bị cáo (Điều 61), quyền và nghĩa vụ của người bào chữa (Điều 73)…

6. Quy định sự có mặt của Kiểm sát viên thể hiện nguyên tắc tranh tụng

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử là những tư tưởng, quan điểm có tính chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này được thể hiện đậm nét, đặc trưng nhất là tại phiên tòa (sơ thẩm, phúc thẩm) qua nhiều điều luật.

Nhằm khắc phục tình trạng chất lượng tranh tụng còn hạn chế ở một số phiên tòa có đông bị cáo, có nhiều luật sư tham gia, do chỉ cho phép tối đa hai Kiểm sát viên tham gia (Điều 189 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi theo hướng Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố kiểm sát xét xử tại phiên tòa. Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên. Số lượng cụ thể Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định, trên cơ sở căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng vụ án (Điều 289).

Điều 289. Sự có mặt của Kiểm sát viên

1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên. Trường hợp Kiểm sát viên không thể có mặt tại phiên tòa thì Kiểm sát viên dự khuyết có mặt tại phiên tòa từ đầu được thay thế để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

2. Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. 

 LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)