- 1. Những trường hợp pháp luật bắt buộc phải chỉ định người bào chữa?
- 2. Các cơ quan được quyền chỉ định người bào chữa
- 3. Quyền thay đổi, từ chối người bào chữa chỉ định
- 4. Thủ tục chỉ định người bào chữa bắt buộc
- 5. Một số ưu điểm, nhược điểm về việc chỉ định người bào chữa
- 5.1. Ưu điểm
- 5.2. Nhược điểm
- 6. Kết luận
Việc bảo đảm quyền con người và quyền công dân trong tố tụng hình sự luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm. Một trong những biểu hiện rõ nét của tinh thần này chính là quy định về cơ chế chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo trong những trường hợp pháp luật quy định. Đây là một bước tiến quan trọng, góp phần thực hiện hóa nguyên tắc suy đoán vô tội và bảo vệ quyền bào chữa - một trong những quyền cơ bản con người trong tố tụng hình sự.
1. Những trường hợp pháp luật bắt buộc phải chỉ định người bào chữa?
Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 cụ thể hóa nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa và quy định rất rõ về các trường hợp mà cơ quan tố tụng bắt buộc phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo. Đây là một trong những chế định pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền con người, quyền được xét xử công bằng, quyền bào chữa và suy đoàn vô tội trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Cụ thể có các trường hợp bắt buộc như sau:
- Người bị buộc tội là người có nhược điểm về thể chất mà không thể tự mình bào chữa(điểm b Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015): việc chỉ định người bào chữa này nhằm mục đích bù đắp những hạn chế do khuyết tật thể chất gây ra (ví dụ: điếc, câm,mù,...) khiến bản thân họ không thể tự mình thực hiện đầy đủ quyền tự bào chữa. Thực tiễn nếu không có người bào chữa cho nhóm người này việc xét xử có thể thiếu công bằng, dễ bị oan sai nếu không có người bảo vệ quyền lợi.
- Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi (điểm b Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015): đây là quy định tiên quyết, bắt buộc mà không phụ thuộc vào mức hình phạt của tội danh. Người dưới 18 tuổi chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý, thiếu kinh nghiệm và kiến thức pháp luật, dễ bị tổn thương, dễ bị tác động trong quá trình tố tụng. Việc chỉ định người bào chữa này nhằm đảm bảo nguyên tắc ưu tiên bảo vệ người dưới 18 tuổi được thực hiện một cách khách quan, không làm tổn hại đến sự phát triển của họ.
- Người bị buộc tội có nhược điểm về tinh thần (điểm b Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015): mặc dù nhóm người này không hoàn toàn mất năng lực hành vi dân sự, nhưng hạn chế về tâm thần khiến người bị buộc tội không thể nhận thức được đầy đủ và thực hiện quyền bào chữa của mình. Việc chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội bị hạn chế năng lực hành vi hoặc khả năng nhận thức do vấn đề tâm lý, tâm thần là hoàn toàn đúng đắn.
- Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình (điểm a Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015): đây thuộc trường hợp những tội đặc biệt nghiêm trọng, hình phạt nặng nên cần đảm bảo được rằng là mọi bước tố tụng diễn ra đều minh bạch, chính xác, khách quan, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ pháp lý để đảm bảo tính công bằng tuyệt đối. Đảm bảo được nguyên tắc "suy đoán vô tội" về bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự.
- Người bị buộc tội thuộc đối tượng được Trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý (điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015): mặc dù đối tượng này không được quy định tại khoản 1 Điều này, trường hợp này được suy ra từ cơ chế chỉ định tại khoản 2 điều này. Điều này đảm bảo cho những người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách khác (theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý) được hưởng quyền bào chữa miễn phí, qua đó đảm bảo tính công bằng xã hội.
Quy định về các trường hợp bắt buộc phải chỉ định người bào chữa tại Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 là một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng Hình sự ở Việt Nam. Việc chỉ định người bào chữa bắt buộc trong các trường hợp nêu trên không chỉ là thủ tục pháp lý, mà còn là cơ chế bảo đảm quyền con người, bảo vệ người yếu thế trong xã hội và duy trì công bằng trong tố tụng hình sự. Quy định này thể hiện rõ tinh thần cải cách tư pháp, phù hợp với chuẩn mực quốc tế về quyền con người.
2. Các cơ quan được quyền chỉ định người bào chữa
Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã thiết lập một cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các tổ chức xã hội, nghề nghiệp để đảm bảo quyền bào chữa. Điều này quy định rõ các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ( bao gồm: cơ quan điều tra, viện kiểm sát, Tòa án) phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức liên quan cử người bào chữa mà không được tự mình chỉ định hoặc lựa chọn cá nhân cụ thể, phải thực hiện qua các tổ chức chuyên môn. Tại khoản 2 Điều này xác định rõ ba loại tổ chức có trách nhiệm bào chữa, thể hiện sự đa dạng hóa nguồn lực hỗ trợ pháp lý:
- Luật sư thuộc các tổ chức hành nghề luật sư: đây là nguồn lực bào chữa chính và chuyên nghiệp nhất. Việc yêu cầu Đoàn luật sư phân công đảm bảo người bào chữa có đủ tiêu chuẩn về chuyên môn, đạo đức và được kiểm soát chặt chẽ bởi tổ chức nghề nghiệp.
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý: quy định này liên kết cơ chế chỉ định với Luật Trợ giúp pháp lý. Nó bảo đảm rằng người bị buộc tội thuộc đối tượng được hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý (người nghèo, người có công, người dân tộc thiểu số...) sẽ được hỗ trợ miễn phí, củng cố nguyên tắc công bằng xã hội trong pháp luật.
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử Bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên tổ chức mình: quy định này mang tính chất xã hội hóa hoạt động bào chữa và thể hiện vai trò giám sát, bảo vệ quyền lợi của các tổ chức quần chúng. Bào chữa viên nhân dân chủ yếu tham gia bào chữa tại cấp tòa sơ thẩm, cho thành viên của tổ chức mình. Tuy nhiên, trên thực tế, vai trò của Bào chữa viên nhân dân hiện nay không phổ biến và thường được thay thế bằng Luật sư chỉ định.
3. Quyền thay đổi, từ chối người bào chữa chỉ định
Điều 77 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã được quy định để cân bằng giữa quyền lợi cá nhân của người bị buộc tội và yêu cầu khách quan của hoạt động tố tụng, bao gồm cả việc bào chữa do họ tự mời hay do cơ quan tố tụng chỉ định.
Tại khoản 1 Điều 77 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã xác định rõ ai là người có quyền thay đổi hoặc từ chối bào chữa và đặt ra nguyên tắc cốt lõi cho việc thực hiện quyền này. Luật đã nêu rõ quyền từ chối hoặc thay đổi không chỉ cho Người bị buộc tội mà còn cho cả người đại diện và người thân thích của họ. Trường hợp người bị buộc tội đang bị tạm giam, tạm giữ và khó khăn trong việc thực hiện quyền của mình, hoặc khi họ thuộc nhóm yếu thế cần sự hỗ trợ thì người đại diện hoặc người thân thích của họ có thể thay mặt họ từ chối hoặc thay đổi người bào chữa. Tuy nhiên, mọi trường hợp thay đổi hoặc từ chối đều phải có sự đồng ý của người bị buộc tội và được lập biên bản vào hồ sơ vụ án để nhằm đảm bảo quyết định từ chối, thay đổi là chính đáng, minh bạch và được lưu trữ làm căn cứ đối chiếu sau này. Sự đồng ý của người bị buộc tội là trọng yếu để khẳng định quyền tự quyết của họ được tôn trọng.
Trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:người có nhược điểm về thể chất/tâm thần hoặc người dưới 18 tuổi. Đây là nhóm đối tượng yếu thế, có thể không đủ năng lực nhận thức hoặc thể chất để đưa ra sự đồng ý. Do đó, trong trường hợp này, việc thay đổi/từ chối do người đại diện/thân thích đề xuất có thể được chấp nhận mà không cần sự đồng ý trực tiếp của người bị buộc tội.
4. Thủ tục chỉ định người bào chữa bắt buộc
Việc chỉ định người bào chữa đối với người bị buộc tội thuộc các trường hợp bắt buộc (như tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất/tâm thần) là trách nhiệm pháp lý của các cơ quan tiến hành tố tụng, được quy định chủ yếu tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư số 46/2019/TT-BCA của Bộ Công an.
Trường hợp người bị buộc tội hoặc người đại diện/thân thích của họ có đơn yêu cầu người bào chữa, Cơ quan điều tra, Nhà tạm giữ, Trại tạm giam sẽ ưu tiên giải quyết đơn này theo các thủ tục đăng ký bào chữa thông thường và hướng dẫn tại Điều 3 và Điều 4 Thông tư 46/2019/TT-BCA.
Tuy nhiên, nếu những người này không có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa, cơ quan đang thụ lý vụ án phải kích hoạt cơ chế chỉ định bắt buộc. Căn cứ Khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015, cơ quan này có nghĩa vụ chỉ định. Theo hướng dẫn chi tiết của ngành Công an, trong thời hạn 03 ngày kể từ khi nhận được thông báo về việc không có đơn yêu cầu, cơ quan đang thụ lý vụ án phải thực hiện các thủ tục chỉ định theo cơ chế tại Khoản 2 Điều 76 BLTTHS 2015 (yêu cầu Đoàn Luật sư hoặc Trung tâm Trợ giúp pháp lý cử người).
Khi Cơ quan điều tra nhận được văn bản cử người bào chữa theo quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015, trách nhiệm phải được thực hiện một cách nhanh chóng. Cụ thể, trong thời hạn không quá 24 giờ (theo hướng dẫn của Thông tư 46/2019/TT-BCA), Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải trực tiếp gặp bị can hoặc người liên quan để lấy ý kiến về việc chỉ định này. Đối tượng được lấy ý kiến là bị can thuộc trường hợp chỉ định do tính chất nghiêm trọng của tội phạm (Điểm a Khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015), hoặc người đại diện/người thân thích của bị can thuộc nhóm yếu thế (Điểm b Khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015). Việc gặp mặt này là bắt buộc để đảm bảo quyền tự quyết của người bị buộc tội được tôn trọng.
Tất cả diễn biến và ý kiến tại cuộc gặp phải được lập biên bản rõ ràng, ghi nhận chính xác việc bị can hoặc người liên quan đồng ý, thay đổi hoặc từ chối người bào chữa được cử. Nếu bị can đồng ý với người bào chữa được chỉ định, biên bản này sẽ là căn cứ pháp lý để cơ quan thụ lý vụ án tiếp tục tiến hành các thủ tục đăng ký bào chữa chính thức, hoàn tất việc bảo đảm quyền bào chữa theo luật định.
5. Một số ưu điểm, nhược điểm về việc chỉ định người bào chữa
5.1. Ưu điểm
Thứ nhất, tôn trọng quyền tự quyết của người bị buộc tội. Tại điều 77 BLTTHS năm 2015 đã chỉ ra rõ người bị buộc tội có thể từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa mà cơ quan có thẩm quyền tố tụng yêu cầu hoặc đề nghị, khẳng định mối quan hệ bào chữa dựa trên sự tin cậy, không ép buộc.
Thứ hai, quy trình được thiết lập nhằm duy trì sự minh bạch và tính hợp pháp trong mọi quyết định tố tụng. Việc yêu cầu Cơ quan điều tra phải lập biên bản ghi nhận ý kiến và phải gặp mặt trực tiếp bị can trong thời hạn 24 giờ để xác nhận việc từ chối (theo hướng dẫn của Thông tư 46/2019/TT-BCA) là một biện pháp hữu hiệu. Quy định về thời hạn này đảm bảo rằng ý chí của bị can được ghi nhận kịp thời, không bị trì hoãn hoặc bị lạm dụng bởi bất kỳ bên nào. Đồng thời, thủ tục này tạo ra bằng chứng pháp lý rõ ràng, ngăn ngừa khiếu nại về việc bị tước quyền bào chữa sau này.
5.2. Nhược điểm
Thứ nhất, Chưa quy định người bào chữa bắt buộc được gặp bị cáo sau phiên tòa sơ thẩm.
Mặc dù tại khoản 6 Điều 78 BLTTHS năm 2015 quy định:“Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp: Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa; Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa” và tại điểm o khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015, quy định người bào chữa có quyền:“Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này”. Với quy định như trên nhưng thiếu văn bản hướng dẫn thì việc người bào chữa gặp bị cáo sau phiên tòa sơ thẩm để thống nhất, trao đổi thực hiện một số công việc như kháng cáo, các hoạt động khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người bị buộc tội sẽ khó khăn và không được gặp như thực tế đã diễn ra trong thời gian qua.
Thứ hai, Chưa có cơ chế phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng với Đoàn luật sư các tỉnh thành về hình thành cơ chế “Luật sư, Trợ giúp pháp lý trực ban”:
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, người đại diện hoặc người bào chữa cho người bị buộc tội có quyền và nghĩa vụ tham gia, chứng kiến khi cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, lấy lời khai của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần. Trường hợp người bị buộc tội không có người đại diện hoặc khi mà cơ quan tiến hành tố tụng chưa liên hệ, không tìm được người đại diện của người bị buộc tội, chưa tìm được luật sư bảo vệ, bào chữa, thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể mời luật sư trực ban tham gia ngay các hoạt động tố tụng này để đảm bảo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.
Thứ ba, Chưa có chế tài xử lý những người tiến hành tố tụng cản trở quyền bào chữa của người bị buộc tội, quyền hành nghề luật sư:
Hiện nay BLTTHS và các văn bản hướng dẫn chưa có chế định nào xử lý những hành vi cản trở hoạt động hành nghề của người bào chữa. Trên thực tế, cũng chưa thấy vụ án mà người tiến hành tố tụng bị xử lý nghiêm túc, công khai về hành vi này, cùng lắm chỉ là nhắc nhở, rút kinh nghiệm nội bộ. Do đó, cần phải có chế tài xử lý nghiêm vi phạm của người tiến hành tố tụng.
Thứ tư, Chưa có sự thể chế hóa ở một mức độ cao mối quan hệ giữa người bào chữa với các cơ quan tiến hành tố tụng có tính chất vừa hợp tác, vừa chế ước:
Cơ quan tiến hành tố tụng và người bào chữa đều có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật, tôn trọng nhau và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong khuôn khổ của pháp luật cho phép để tìm ra sự thật của vụ án. Sự chế ước giữa người bào chữa với cơ quan tiến hành tố tụng thể hiện sự giám sát lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ để pháp luật được thi hành đúng đắn. Một sai sót hay một sự lạm quyền của bên này đều có thể thành sự tranh luận hoặc chỉ trích của bên kia. Sự chế ước này còn góp phần làm giảm thiểu sự vi phạm pháp luật của những người nói trên trong quá trình giải quyết vụ án với mục đích cuối cùng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Vị thế của người bào chữa với những quyền hạn và nghĩa vụ như hiện nay thì người bào chữa khó trở thành đối tượng, cân sức với cơ quan tiến hành tố tụng đầy đủ quyền lực, nên cần phải cải cách, phải gia tăng thêm quyền hạn để người bào chữa đủ điều kiện chế ước.
6. Kết luận
Việc khẳng định cơ chế chỉ định người bào chữa trong pháp luật Việt Nam là "vừa chặt chẽ về thủ tục, vừa nhân văn về nguyên tắc" là hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, để đánh giá toàn diện, cần nhìn nhận cả những ưu điểm nổi bật mà cơ chế này mang lại và những nhược điểm còn tồn tại trong quá trình thực thi.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật dân sự hoặc các lĩnh vực khác liên quan Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến.. Trân trọng./.