Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Hiến pháp năm 2013

- Bộ luật lao động năm 2019

- Luật việc làm năm 2013

- Luật bảo hiểm xã hội năm 2014

2. Quyền con người là gì?

Quyền con người được hiểu là những giá trị về vật chất hoặc tinh thần gắn liền với con người được tôn trọng, ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện trên cơ sở pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.

Quyền con người là một khái niệm mang tính toàn cầu, là mục tiêu cũng là hướng đến của các quốc gia trên thế giới. Quyền con người mang giá trị nhân văn chứa đựng “các chuẩn mực chung cho tất cả các dân tộc và các quốc gia phấn đấu thực hiện”.

Thước đo trình độ văn minh của một quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển quyền con người của quốc gia đó. Với ý nghĩa đó, trong các văn kiện quốc tế có tới 24 công ước quốc tế về nhân quyền. Đặc biệt trong số các công ước điều chỉnh về quyền con người thì Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 được xem là văn kiện nòng cốt tạo thành Bộ luật quốc tế về nhân quyền.

3. Quyền con người trong lao động và các đặc trưng

Quyền con người trong lao động là những quyền con người liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm nói riêng.

Dưới góc độ pháp lý, quyền con người trong lao động là những giá trị về vật chất hoặc tinh thần gắn liền với con người trong quá trình lao động được tôn trọng, ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật lao động.

Quyền con người trong lao động mang những đặc trưng cơ bản của quyền con người nói chung như:

+ Tính phổ biến;

+ Tính đặc thù;

+ Tính không thể bị tước bỏ;

+ Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền.

Ngoài ra, quyền con người trong lao động còn có những đặc điểm cơ bản khác so với quyền con người trong các lĩnh vực dân sự, chính trị…

3.1. Quyền con người trong lao động luôn phát sinh, gắn liền với quan hệ lao động

Tổ chức Lao động quốc tế định nghĩa: “Quan hệ lao động là những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa những người lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ giữa các đại diện lao động của họ với nhà nước”.

Khái niệm này cũng được Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể.”. Khi tham gia vào quan hệ lao động, người lao động và người sử dụng lao động được xem là các chủ thể mà nếu thiếu sẽ không thể tồn tại loại quan hệ này. Người lao động tham gia quan hệ lao động với tư cách là người bán sức lao động và người sử dụng lao động tham gia vào thị trường lao động để tìm kiếm lợi nhuận thông qua quá trình sử dụng sức lao động đó.

Kể từ khi tham gia vào quan hệ lao động, thông qua hành vi giao kết hợp đồng, quyền con người trong lao động được hình thành. Các quyền này gắn liền với người lao động và không thể chuyển giao cho các chủ thể khác. Khi quan hệ lao động thay đổi hay chấm dứt kéo theo sự thay đổi về các loại quyền của họ. Quyền con người trong lao động là những quyền gắn với quan hệ lao động và phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động. Quyền con người trong lao động bao gồm các loại quyền cơ bản liên quan đến việc làm, tiền lương, bảo hộ lao động, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, tự do liên kết và an sinh xã hội.

3.2. Quyền con người trong lao động phụ thuộc vào sự vận hành của cơ chế hai bên và cơ chế ba bên

Trong mối quan hệ hai bên (người lao động và người sử dụng lao động), điều dễ thấy nhất trong quan hệ này đó là việc người lao động lệ thuộc vào người sử dụng lao động và là người có vị trí yếu thế so với người sử dụng lao động.

Người lao động tham gia quan hệ lao động đặt trong mối quan hệ không cân sức với người sử dụng lao động. Sức lao động được xem là hàng hóa để trao đổi tiền lương, phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu của người lao động và gia đình họ. Trong khi đó, người sử dụng lao động lại có tài sản và những đặc quyền gắn với việc sở hữu tài sản đó. Quyền quản lý lao động là một thuộc tính gắn liền với người sử dụng lao động buộc người lao động phải lệ thuộc trong quá trình lao động.

Quá trình phát triển của quan hệ lao động trong lịch sử đã chứng minh đặc điểm: “Trong quan hệ lao động, người lao động bao giờ cũng bị lệ thuộc vào người sử dụng lao động. Sự phụ thuộc này có thể ở những mức độ khác nhau trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhưng tồn tại trong tất cả các giai đoạn phát triển. Sự tiến bộ của loài người chỉ có thể giảm bớt những phụ thuộc quá mức cần thiết, giải phóng người lao động để họ được tự do và hưởng quyền con người một cách đầy đủ chứ không thể xóa bỏ nó một cách hoàn toàn”. Chính yếu tố phụ thuộc và vị trí yếu thế của người lao động so với người sử dụng lao động là những thuộc tính riêng của quan hệ lao động quyết định việc thụ hưởng quyền con người trong lao động. Quyền này phụ thuộc vào chính người lao động và người sử dụng lao động.

Trong cơ chế ba bên (người lao động, người sử dụng lao động, nhà nước), quyền con người trong lao động vừa chịu sự chi phối bởi ý chí của người sử dụng lao động và trong một số trường hợp còn chịu sự tác động từ phía nhà nước. Nhà nước vừa giữ vai trò điều tiết quan hệ lao động phát triển theo đúng các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, vừa đóng vai trò là bên thứ ba tham gia vào quan hệ lao động. Nhà nước có thể hạn chế một số quyền con người trong lao động vì người lao động vi phạm quy tắc đạo đức, nghề nghiệp; đối với người lao động đặc thù, nhà nước không cho phép họ tham gia vào các công việc ảnh hưởng đến sức khỏe của chính họ; trong một số trường hợp, nhà nước cũng không cho phép người lao động tham gia vào các ngành nghề, khu vực bị cấm…

3.3. Quyền con người trong lao động được pháp luật lao động ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện

Khi tham gia giao kết hợp đồng lao động, pháp luật đã tạo hành lang pháp lý để bảo vệ quyền con người. Một mặt, nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong lao động thông qua việc quy định các giới hạn tối thiểu về quyền lợi và tối đa về trách nhiệm cho người lao động. Mặt khác, nhà nước khuyến khích những thỏa thuận có lợi hơn cho người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động. Khi quyền lợi của người lao động bị vi phạm, nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các hành vi vi phạm đó.

Quyền con người trong lao động là một loại quyền kinh tế xã hội được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về nhân quyền nói chung và lĩnh vực lao động nói riêng. Liên quan đến lĩnh vực lao động, Việt Nam đã phê chuẩn 20 công ước, trong đó có 5 công ước cơ bản, 3 công ước ưu tiên và 12 công ước kỹ thuật. Các công ước ghi nhận quyền con người trong lao động liên quan đến các vấn đề về việc làm, lao động nữ, lao động trẻ em, lao động hàng hải, trả công bình đẳng, an toàn, vệ sinh lao động, thời giờ làm việc… Việt Nam cũng như các quốc gia khác đã có nhiều nỗ lực trong việc phê chuẩn và nội luật hóa để đảm bảo quyền con người trong lao động được thực hiện một cách hữu hiệu.

4. Nội dung quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam

4.1. Quyền làm việc

Việc làm luôn là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung. Việc làm và tạo việc làm là một trong những mục tiêu chính của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội nước ta trong những năm qua. Việc làm có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đời sống người lao động. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về việc làm để đảm bảo việc thực thi quyền có việc làm của người lao động.

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc”. Có thể khẳng định, cách thức hiến định về các quyền con người nói chung và quyền con người trong lao động nói riêng có sự thay đổi căn bản từ công thức nhà nước “trao quyền” cho người dân trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 55) sang việc nhà nước ghi nhận quyền, tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền việc làm của người lao động.

Quyền trong lĩnh vực việc làm không chỉ được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Lao động năm 2019 mà còn được thể hiện trong Luật Việc làm năm 2013. Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành Nghị định số 03/2014/NĐ-CP ngày 16/01/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm và Thông tư số 23/2014/BLĐTBXH ngày 29/8/2014 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 03/2014/NĐ-CP.

Hệ thống các văn bản pháp luật về việc làm đều ghi nhận “quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử” của người lao động. Theo đó, khi tham gia vào quan hệ lao động, công dân được lựa chọn ngành nghề cụ thể đáp ứng với yêu cầu của bản thân, gia đình, được tự do xác lập một hoặc nhiều hợp đồng lao động với một hoặc nhiều chủ sử dụng lao động, được tự do lựa chọn loại hợp đồng lao động để giao kết, được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, được làm bất cứ công việc gì mà pháp luật không cấm, được làm việc ở bất cứ khu vực nào mà pháp luật cho phép. Pháp luật lao động cũng cho phép công dân được tham gia quan hệ lao động với tư cách là người lao động hoặc với tư cách là người sử dụng lao động.

Để đảm bảo thực thi quyền làm việc của người lao động, Nhà nước đã quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm, thông tin thị trường lao động, tổ chức hoạt động dịch vụ việc làm; trách nhiệm của Nhà nước và người sử dụng lao động trong việc đảm bảo quyền làm việc của người lao động. Trong đó, để hỗ trợ quyền làm việc cho người lao động, pháp luật quy định Nhà nước có trách nhiệm xác định chỉ tiêu tạo việc làm tăng thêm trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm, hằng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm cho nhiều người lao động. Ngoài ra, Nhà nước còn có nhiều chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số, cho các tổ chức và cá nhân trong và nước ngoài.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong tuyển dụng lao động; trong đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động; trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động. Trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng. Trường hợp người lao động bị mất việc làm, pháp luật quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp mất việc cho người lao động. Khi người lao động không có việc làm sẽ được Nhà nước giải quyết cho hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

4.2. Quyền hưởng lương

Tiền lương là một trong những chính sách kinh tế xã hội quan trọng của Nhà nước nhằm phân phối, điều chỉnh thu nhập, phân bố và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nhất là các nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tiền lương cũng chính là một trong những yếu tố cấu thành nên chi phí sản xuất, kinh doanh và do đó, cũng là một trong những yếu tố cấu thành nên giá cả hàng hóa, dịch vụ. Tiền lương là biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động. Tiền lương là khoản tiền chủ yếu trong tổng số thu nhập của người lao động giúp người lao động nuôi sống bản thân và gia đình người lao động đồng thời giúp người lao động tích lũy, phòng ngừa rủi ro, giải quyết các nhu cầu cá nhân và gia đình. Với vai trò quan trọng như vậy, bên cạnh Hiến pháp năm 2013, Bộ luật lao động năm 2019, Nhà nước ta đã ban hành Nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương và Nghị định số 103/2014/NĐ-CP ngày 11/11/2014 quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động.

Để đảm bảo quyền hưởng lương theo Điều 35 Hiến pháp năm 2013 và quyền hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động theo Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2019, Nhà nước đã quy định cụ thể về mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành để làm căn cứ trả lương cho người lao động trong các doanh nghiệp. Không chỉ thế, Nhà nước cũng quy định việc xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động, các hình thức trả lương, nguyên tắc trả lương, tiền lương trả cho người lao động khi họ làm đêm, làm thêm giờ, các chế độ phụ cấp, tiền thưởng cũng như quy định việc trả lương trong trường hợp người lao động bị ngừng việc. Pháp luật cũng đảm bảo quyền của người lao động khi quy định việc trả lương thông qua cai thầu, trung gian và trường hợp tạm ứng lương, khấu trừ lương trong quá trình thực hiện quan hệ lao động. Ngoài ra, pháp luật cũng ban hành mới quy định về Hội đồng tiền lương quốc gia để xây dựng cơ chế bảo vệ quyền của người lao động trong lĩnh vực tiền lương. Song song với việc quy định mang tính nguyên tắc, pháp luật khuyến khích các chủ thể thoả thuận cao hơn mức quy định để đảm bảo quyền hưởng lương của người lao động đáp ứng với các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, nâng cao thu nhập cho người lao động.

4.3. Quyền đảm bảo các điều kiện an toàn, vệ sinh lao động

Bảo hộ lao động là một nội dung rất quan trọng của pháp luật lao động, là một biện pháp chủ yếu để cải thiện môi trường và điều kiện làm việc cho người lao động. Với nhận thức con người là vốn quý nhất, vì con người, phát huy nhân tố con người trước hết là người lao động, Đảng và Nhà nước ta ngày càng coi trọng việc bảo đảm an toàn lao động và bảo vệ sức khỏe cho người lao động. Điều 35 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn”. Ngoài ra, Bộ luật Lao động năm 2019, Nghị định số 145/2020/NĐ-CP.

Khi tham gia quan hệ lao động, người lao động là người trực tiếp chịu ảnh hưởng của các điều kiện lao động, người sử dụng lao động là người có trách nhiệm đảm bảo cho người lao động được làm việc trong môi trường điều kiện làm việc an toàn, và Nhà nước là chủ thể thống nhất quản lý chế độ bảo hộ lao động. Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động. Người sử dụng lao động phải bảo đảm nơi làm việc đạt tiêu chuẩn về không gian, độ thoáng, độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hại khác. Người sử dụng lao động phải khám sức khỏe định kỳ và thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật cho người lao động. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định cụ thể các trường hợp phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Khi người lao động bị tai nạn lao động, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm sơ cứu, cấp cứu điều trị cho người lao động và tùy mức suy giảm khả năng lao động của người lao động mà người sử dụng lao động phải bồi thường.

Bên cạnh đó, pháp luật quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, Nhà nước ban hành danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bắt buộc người sử dụng lao động, người lao động phải tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm đó. Ngoài ra, để người lao động được hưởng quyền làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động, pháp luật cũng quy định cụ thể trách nhiệm của tổ chức công đoàn và các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hộ lao động.

4.4. Quyền thành lập, gia nhập và hoạt động tổ chức đại diện người lao động

Quyền tự do liên kết được xem như là một loại quyền đặc biệt của người lao động. Loại quyền này được thừa nhận mang tính khách quan để nhằm cân bằng vị thế giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Để cụ thể hoá và đảm bảo loại quyền này được thực thi, Nhà nước đã ban hành Hiến pháp 2013, Bộ luật Lao động 2019, Luật Công đoàn năm 2012 và Nghị định số 43/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/5/2013 quy định chi tiết thi hành Điều 10 của Luật Công đoàn về quyền, trách nhiệm của công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Điều 4 Luật Công đoàn năm 2012 quy định: “Quyền công đoàn là quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động, đoàn viên công đoàn”. Luật Công đoàn năm 2012 cũng thừa nhận quyền công đoàn là quyền của người Việt Nam làm việc trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Để bảo đảo quyền công đoàn của người lao động, pháp luật quy định cụ thể chủ thể có quyền thành lập và gia nhập hoạt động; điều kiện được thành lập tổ chức công đoàn (hình thức, nội dung); mức độ tham gia của người sử dụng lao động trong việc thành lập và hoạt động của tổ chức công đoàn; quyền và nghĩa vụ của tổ chức công đoàn; vị trí, vai trò, chức năng của tổ chức công đoàn; mối quan hệ của tổ chức công đoàn với tổ chức đại diện người sử dụng lao động; mối quan hệ của tổ chức công đoàn với người sử dụng lao động và Nhà nước; các hành vi phân biệt đối xử từ phía người sử dụng lao động, các điều kiện cần thiết bảo đảm cho hoạt động của tổ chức công đoàn.

An sinh xã hội là một trong những chỉ báo quan trọng về định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường. An sinh xã hội lấy con người làm trung tâm, coi con người vừa là động lực của sự phát triển xã hội, vừa là mục tiêu của việc xây dựng xã hội. An sinh xã hội góp phần ổn định phát triển và tiến bộ xã hội. Với ý nghĩa đó, Hiến pháp 2013, Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã quy định cụ thể quyền hưởng bảo hiểm xã hội của người lao động – một loại quyền an sinh xã hội trong lĩnh vực lao động. Điều 34 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”. Để thực thi quyền này, pháp luật đã cụ thể hóa các chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm xã hội, điều kiện đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội, các chế độ cụ thể của bảo hiểm xã hội cũng như trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội. Đặc biệt, pháp luật dành sự quan tâm ưu đãi cho lao động nữ trong việc hưởng chế độ thai sản, chế độ hưu trí.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập