1. Công nhận và thi hành các phán quyết trọng tài quốc tế

Nếu một bên không tự nguyện tuân thủ các điều khoản của phán quyết trọng tài, bên thắng kiện có thể phải yêu cầu thực hiện phán quyết trọng tài để nhận sự bồi thường mà bên thắng kiện đã được hưởng.

Trong khi đa số phán quyết được thi hành tự nguyện, vẫn có một số ít các vụ trong đó bên thắng kiện phải thực hiện hành động thi hành. Hành động đó bao gồm yêu cầu quyền thi hành từ một toà án quốc gia, do đó, phán quyết có thể được thi hành theo cách của quyết định của toà án của nước đó.

 

1.1. Những công ước quốc tế chính

Việc thực hiện phán quyết trọng tài quốc tế được quy định trong rất nhiều các công ước quốc tế khác nhau, và thường dễ hơn thực hiện quốc tế các quyết định của toà án quốc gia. Điều này chủ yếu do công ước chính về vấn đề này, Công ước về Công nhận và thi hành phán quyết nước ngoài (Công ước Niu-oóc) đã được hơn 123 quốc gia phê chuẩn và con số này mỗi năm lại tăng lên.

Các công ước khác đáng được lưu ý ở đây là:

- Công ước về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các Quốc gia và công dân của các Quốc gia khác (Oasingtơn, ngày 18 tháng 3 năm 1965). Thường được gọi là Công ước ICSID, công ước này thành lập nên Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, một tổ chức của Ngân hàng thế giới, để tạo điều kiện thuận lợi cho giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế.

- Công ước về trọng tài thương mại quốc tế liên châu Mĩ (Panama, ngày 30 tháng 1 năm 1975);

- Công ước về trọng tài thương mại châu Âu (Giơnevơ, ngày 21 tháng 4 năm 1961); và

- Công ước về trọng tài thương mại ả Rập (Amman, ngày 14 tháng 4 năm 1987).

Toàn văn, danh sách những quốc gia phê chuẩn và tóm tắt các công nước này có thể xem tại website của Juris International http://www.jurisint.org.

 

1.2. Công nhận và thi hành theo Công ước Niu-oóc

Ở những nước đã phê chuẩn Công ước Niu-oóc, toà án phải thi hành các phán quyết trọng tài nước ngoài (đó là những phán quyết được ban hành ở một nước khác) theo những tiêu chuẩn tối thiểu cơ bản quy định trong Điều IV và V của Công ước.

Điều IV quy định một bên muốn thi hành phải cung cấp:

- Bản gốc phán quyết hoặc bản sao có chứng thực hợp lệ, và

- Bản gốc thoả thuận trọng tài, hoặc bản sao có chứng thực hợp lệ.

Cả hai văn bản trên đều phải bằng ngôn ngữ của nước nơi có toà án thi hành phán quyết. Bản sao phán quyết trọng tài có chứng thực thường do tổ chức trọng tài thường trực nộp, hoặc nếu không có tổ chức nào liên quan thì do uỷ ban trọng tài nộp trực tiếp.

Điều quan trọng là theo Công ước Niu-oóc, các toà án quốc gia không được phép xem xét nội dung của một phán quyết. Ngay khi các văn bản cần thiết đã được cung cấp, toà án phải công nhận và thi hành phán quyết, trừ khi nêu ra  một hoặc nhiều các căn cứ để từ chối theo Điều V của công ước.

 

1.3. Điều khoản quan trọng – Điều V Công ước Niu-óoc

Những căn cứ  mà theo đó việc công nhận phán quyết nước ngoài có thể bị từ chối được liệt kê trong Điều V của Công ước Niu-oóc.  Vì điều khoản này là cơ sở trong trọng tài quốc tế nên được trích nguyên văn dưới đây.

Điều V

1. Việc công nhận và thi hành phán quyết có thể bị từ chối, theo yêu cầu của bên phải thi hành, chỉ khi nào bên đó chuyển tới cơ quan có thẩm quyền nơi việc công nhận và thi hành được yêu cầu bằng chứng rằng:

a) Các bên của thoả thuận đã nói ở Điều II, theo luật áp dụng, không có tư cách, hoặc thoả thuận nói trên không có giá trị theo luật dẫn chiếu hoặc, nếu không có chỉ dẫn nào về điều này, theo luật của quốc gia nơi ra phán quyết; hoặc

b) Nếu bên phải thi hành không được thông báo thích đáng về việc chỉ định trọng tài viên hay công việc xét xử trọng tài hoặc do một nguyên nhân gì khác không thể trình bày sự việc; hoặc

c)Phán quyết được ra cho một tranh chấp không được dự liệu trong các điều khoản của đơn yêu cầu xét xử trọng tài hay nằm ngoài các điều khoản đó, hoặc phán quyết gồm các quyết định về các vấn đề ngoài phạm vi của yêu cầu xét xử trọng tài, tuy nhiên nếu các quyết định về các vấn đề được yêu cầu xét xử trọng tài có thể tách rời khỏi các quyết định về vấn đề không được yêu cầu, thì  phần của phán quyết gồm, các quyết định về các vấn đề được yêu cầu có thể được công nhận và thi hành; hoặc

d) Thành phần trọng tài xét xử hoặc thủ tục xét xử trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc, nếu không có thoả thuận đó, không phù hợp với luật của Quốc gia nơi tiến hành việc xét xử trọng tài; hoặc

e) Phán quyết chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên, hoặc bị gác lại hay đình hoãn bởi cơ quan có thẩm quyền của Quốc gia hoặc theo luật Quốc gia nơi ra phán quyết (được ra).

2. Việc công nhận và thi hành phán quyết còn có thể bị từ chối nếu như cơ quan có thẩm quyền của Quốc gia, nơi việc công nhận và thi hành đó được yêu cầu, cho rằng:

a) Đối tượng của vụ tranh chấp không thể giải quyết được bằng trọng tài theo luật pháp của Quốc gia đó; hoặc

b) Việc công nhận và thi hành phán quyết sẽ trái với trật tự pháp luật của Quốc gia đó.

Luật án lệ, đối với Công ước Niu-oóc, cho thấy rất hiếm khi ban hành các quyết định từ chối thi hành phán quyết trọng tài quốc tế.

Tuy nhiên, nên lưu ý là theo Công ước Niu-oóc, một số nước chọn đã áp dụng các điều khoản của Công ước chỉ trên cơ sở có đi có lại, đó là đối với các phán quyết được ban hành tại lãnh thổ một Quốc gia tham gia Công ước khác. Hơn nữa, theo Công ước, một số nước đã chọn chỉ áp dụng các điều khoản đối với các phán quyết được ban hành trong các vấn đề thương mại (Điều I.3 của Công ước). Tuy nhiên, hai điều kiện bảo lưu hạn chế này không ảnh hưởng lớn tới sự thành công của Công ước và việc thi hành phán quyết trọng tài ở nước ngoài. (Các điều kiện bảo lưu của những nước phê chuẩn Công ước được liệt kê trong Phụ lục 1).

 

2. Khước từ phán quyết trọng tài

Một bên không thoả mãn với phán quyết trọng tài có thể quyết định khước từ phán quyết bằng cách đưa đơn đề nghị huỷ phán quyết.

Đơn đề nghị huỷ phán quyết phải được đưa ra tại nước nơi phán quyết được ban hành và căn cứ vào sự vi phạm pháp luật của nước đó. Luật trọng tài quốc gia cho phép nộp đơn đề nghị huỷ phán quyết có thể khác nhau giữa các nước. Vì vậy, các bên nên kiểm tra lý do tại sao một phán quyết có thể bị huỷ, trước khi họ quyết định tiến hành xét xử trọng tài tại một nước chứ không phải nước khác.

Trong vòng 10 đến 15 năm qua, rất nhiều nước đã sửa đổi luật trọng tài của mình nhằm hài hoà hoá, và hạn chế, các căn cứ có thể viện dẫn để khước từ phán quyết trọng tài. Về điểm này, nhiều nước đã chọn cách đưa Luật mẫu của UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế vào luật quốc gia của mình. (Toàn văn Luật mẫu xin xem ở Phụ lục II.)

Các căn cứ để đề nghị huỷ phán quyết trọng tài, như quy định trong Điều 34 của Luật mẫu, đa số giống như các căn cứ được nêu trong Điều V của Công ước Niu-oóc.

 

Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế

Để giúp đỡ các nước phát triển pháp luật quốc gia về trọng tài quốc tế theo một đường lối thống nhất, Uỷ ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế đã soạn thảo Luật mẫu về Trọng tài thương maị quốc tế và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 11 tháng 12 năm 1985. Đại hội đồng “đã khuyến nghị tất cả các Quốc gia nên có xem xét thích đáng đối với Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế, với lý do mong muốn thống nhất luật tố tụng trọng tài và yêu cầu cụ thể của thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế”. Luật mẫu về trọng tài được soạn thảo nhằm sử dụng trong mọi hệ thống chính trị và pháp luật, ở những nước phát triển cũng như những nước đang phát triển, và tại mọi khu vực địa lý.

Tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2001, luật dựa trên Luật mẫu của UNCITRAL đã được ban hành ở Australia, Bahrain, Bêlarút, Bermuda, Bungary, Canađa, Cyprus, Ai Cập, Đức, Hy Lạp, Guatemala, Đặc khu hành chính Hồng Kông, Trung Quốc, Hungary, ấn Độ, Cộng hoà Hồi giáo Iran, Ireland, Kenya, Lithuania, Đặc khu hành chính Ma cao thuộc Trung Quốc, Madagascar, Malta, Mêxico, Niu-Dilân, Nigiêria, Ôman, Pê ru, Liên bang Nga, Xingapo, Sri Lanka, Tuynidi, Ucraina và Zimbabuê cũng như trong Vương quốc Anh ở Scốtlen, và ở các bang California, Connecticut, Oregon và Texas của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Tóm lại, một phán quyết trọng tài có thể bị huỷ nếu bên muốn huỷ có thể cung cấp bằng chứng:

- Một bên trong thoả thuận trọng tài đã không đủ năng lực để ký thoả thuận trọng tài, hoặc thoả thuận trọng tài không có giá trị; hoặc

- Bên muốn huỷ không được thông báo thích đáng về việc chỉ định uỷ ban trọng tài, hoặc không thể trình bày vụ việc; hoặc

- Phán quyết trọng tài quyết định các vấn đề ngoài phạm vi của thoả thuận trọng tài; hoặc

- Uỷ ban trọng tài được thành lập không hợp lệ, vi phạm các điều khoản của thoả thuận trọng tài hoặc vi phạm luật của nơi tiến hành xét xử trọng tài.

Phán quyết cũng có thể bị huỷ nếu Toà án tự nhận thấy:

- Vấn đề tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài theo luật của nước (nơi thi hành phán quyết được yêu cầu); hoặc

- Việc công nhận và thi hành phán quyết có thể đi ngược lại trật tự xã hội của nước đó (nơi thi hành phán quyết được yêu cầu).

Nếu phán quyết trọng tài bị huỷ ở nước nơi phán quyết được ban hành, phán quyết sẽ vô hiệu và không thể thi hành tại nước đó. Theo Công ước Niu-oóc năm 1958, phán quyết đó cũng sẽ không thể thi hành tại bất kỳ nước nào đã phê chuẩn Công ước Niu-oóc.

Công ước về trọng tài thương mại châu Âu năm 1961, ký tại Giơnevơ, còn hạn chế hơn Công ước Niu-oóc đối với các căn cứ để huỷ phán quyết. Một phán quyết trọng tài đã bị huỷ tại nước nơi xét xử trọng tài vì một lý do ngoài bốn lý do nêu trong Điều IX, đoạn 1 của Công ước châu Âu, vẫn có thể được công nhận và thi hành tại các Quốc gia tham gia Công ước châu Âu.

Trong mọi trường hợp, thực tiễn đã chứng minh rằng rất ít đơn đề nghị huỷ phán quyết được nộp, và rất ít những đơn đề nghị đó được thực hiện. Như đã nói trong cuộc họp của Hội đồng trọng tài thương mại quốc tế (the Interntaionl Council for Commercial Arbitration – ICCA) tại Paris tháng 5 năm 1998, khi diễn ra lễ kỷ niệm 40 năm ra đời của Công ước Niu-oóc, khoảng 98% phán quyết trọng tài nước ngoài được thi hành. Vì vậy, chỉ có khoảng 2% số vụ một bên không nhận được sự bồi thường mà phán quyết trọng tài đã quyết định.

Luật Minh KHuê (tổng hợp)