1. Phòng xử án
Theo điều 2 thông tư số 01/2017-TT-TANDTC quy định về phòng xử án như sau:
“1. Phòng xử án là không gian tổ chức xét xử vụ án hình sự, hành chính; xét xử, giải quyết vụ việc dân sự, phá sản và xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án.
2. Phòng xử án bao gồm phòng xử án giám đốc thẩm, tái thẩm; phòng xử án sơ thẩm, phúc thẩm.
3. Phòng xử án sơ thẩm, phúc thẩm bao gồm:
a) Phòng xử án hình sự;
b) Phòng xử án hành chính, dân sự, giải quyết việc dân sự, phá sản và xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
c) Phòng xử án và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên.”
2. Cách bố trí phòng xử án
Đây là một điểm mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có quy định riêng về phòng xứ án. Theo đó, phòng xử án phải được bố trí thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và luật sư, người bào chữa khác.
Điều luật cũng giao cho Chánh án TANDTC quy định cụ thể về phòng xử án theo tinh thần trên. Hiện nay luật đã quy định chỉ có tòa án là cơ quan xét xử, do vậy vai trò điều khiển phiên tòa của Hội đồng xét xử là lớn nhất. Việc Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định mới về phòng xử án là rất phù hợp, rất đáng ghi nhận để đưa hoạt động xét xừ đến xu hướng bình đẳng và tôn trọng lần nhau giữa các bên buộc tội - gỡ tội.
Đây không chỉ là vấn đề thay đổi vị trí ngồi một cách cơ học mà phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo (khoản 5 Điều 103) cũng như chủ trương cải cách tư pháp của Đảng thể hiện trong Nghị quyết số 08 ngày 2/1/2002, Nghị quyết số 49 ngày 2/6/2005.
3. Quá trình sửa đổi quy định về phòng xử án
Quá trình soạn thảo BLTTHS 2015, Ban soạn thảo trình Quốc hội điều luật về phòng xử án theo hướng giữ quy định về vị trí chỗ ngồi của các chủ thể như cách bố trí phiên tòa hiện nay. Lý do được Ban soạn thảo đưa ra là: Thứ nhất, quy định như Dự thảo là phù hợp với mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn ở nước ta. Mặc dù Hiến pháp năm 2013 bổ sung nguyên tắc “bảo đảm tranh tụng trong xét xử nhưng chỉ là tăng thêm yếu tố dân chủ, tạo thuận lợi cho người bào chữa tham gia tố tụng chứ không chuyển sang mô hình tranh tụng. Trên cơ sở đó, Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục chia chủ thể thành “người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng mà không chia chủ thể thành “các bên” như trong mô hình tranh tụng. Thứ hai, khi tham gia phiên tòa, ngoài chức năng thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên còn được giao thực hiện chức năng Hiến định là kiểm sát hoạt động tư pháp (bao gồm: kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa). Thứ ba, tổng kết hoạt động tư pháp của Nhà nước ta 70 năm qua (kể cả thời kỳ Viện Công tố trực thuộc Tòa án) thì đều bố trí phòng xử án như quy định của Dự thảo, không có vướng mắc, bảo đảm tính tôn nghiêm của hoạt động xét xử.
Tuy nhiên, trên cơ sở cân nhắc ý kiến của các đại biểu Quốc hội, của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, tham khảo cách bố trí phiên tòa của nhiều nước trên thế giới (kể cả của Liên bang Nga và Trung Quốc là những quốc gia áp dụng mô hình Viện kiểm sát và tại phiên tòa, Kiểm sát viên vừa thực hiện chức năng công tố, vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật), đặc biệt là để phù hợp với nguyên tắc của Hiến pháp năm 2013 “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, Quốc hội đã thông qua quy định về phòng xử án đổi nội dung: “Phòng xử án phải được bố trí thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và luật sư, người bào chữa khác” (khoản 1 Điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).
4. Sự có mặt của người bào chữa tại phiên tòa
Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.
Người bào chữa có thể là: Luật sư; Người đại diện của người bị buộc tội; Bào chữa viên nhân dân; Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
Những người sau đây không được bào chữa: Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó; Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.
Điều 291 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về sự có mặt của người bào chữa tại phiên tòa là bắt buộc, nhưng có thể gửi trước bản bào chữa cho Tòa án. Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Nếu người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử. Trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này mà người bào chữa vắng mặt, thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa.
5. Quy định về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 dành hẳn mục V Chương XXI về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa, coi đây là nội dung cốt lõi thể hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. về cơ bản, tuy chưa chuyển hẳn sang việc chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, vấn quy định khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi theo quy định tại Điều 307 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, đã có những điểm mới trong trình tự phát biểu khi tranh luận, yêu cầu Kiểm sát viên khi luận tội phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa theo Điều 321 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. về phần mình, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và những lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra để' nghị của mình.
Trên cơ sở đó, theo Điều 322 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Kiểm sát viên phải đưa ra những chứng cứ, tài liệu và những lập luận của mình để đối đáp đến cùng với từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và các ý kiến lặp lại. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận. Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và phải được thể hiện trong bản án. Những điểm đổi mới nêu trên là cơ sở thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm đảm được quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: “Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa”.
Ngoài ra, liên quan đến chế định bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 còn quy định chi tiết và có nhiều nội dung làm rõ hơn vị thế và vai trò của luật sư trong giai đoạn xét xử phúc thẩm; xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm và tái thẩm; xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thủ tục đặc biệt đối với người chưa thành niên; thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân; thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; thủ tục rút gọn; khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự; và một số vấn đề liên quan thủ tục tố tụng trong hợp tác quốc tế về dẫn độ, thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)