bảo hoạt động điều tra bằng các phương pháp điều tra tố tụng đặc biệt được tiến hành một cách có hiệu quả nhất.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Quyết định 111/QĐ-VKSTC năm 2020 về Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.

1. Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Thẩm quyền ra quyết định và thẩm quyền phê duyệt quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định tại Điều 225 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (BLTTHS).

Thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt: Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên.

Thẩm quyền phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt: Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu trở lên.

Thủ tục áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt:

Bước 1: Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Cách thức ra quyết định: Tự mình ra quyết định hoặc ra quyết định theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.

Bước 2:  Gửi hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thời gian gửi hồ sơ tới VKS cùng cấp: Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thành phần hồ sơ theo quy định tại khoản 3 Điều 25 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP gồm có:

- Văn bản đề nghị xét phê chuẩn nêu rõ lý do, căn cứ áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và các thông tin, tài liệu cần thiết thu thập khi áp dụng biện pháp này;

- Quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên theo quy định tại khoản 2 Điều 225 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Các tài liệu khác là căn cứ để Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên đề nghị xét phê chuẩn.

Bước 3: Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc có văn bản yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Thời hạn để VKS ra một trong các quyết định nêu trên: Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên.

Bước 4: Cơ quan chuyên trách trong Cơ quan điều tra sẽ thi hành quyết định.

Lưu ýTrường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực thụ lý, điều tra mà thấy cần thiết và có căn cứ áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (BPĐTTTĐB). Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực trao đồi với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực về căn cứ và biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể áp dụng đồng thời có văn bản kèm theo hồ sơ đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

2. Quy định về thực hiện biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Việc thực hiện biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 26 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP như sau:

2.1. Trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan Điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên

- Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên thường xuyên kiểm tra việc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

- Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên thường xuyên thông báo thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và thống nhất việc sử dụng, xử lý đối với thông tin, tài liệu thu thập được theo quy định.

2.2. Quy định về sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được

Việc sử dụng các thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải tuân thủ các quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng Hình sự như sau:

- Các thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể được dùng làm chứng cứ để giải quyết vụ án.

- Các thông tin, tài liệu chỉ được sử dụng vào việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án phải tiêu hủy kịp thời.

- Vì các tài liệu, thông tin này mang tính bí mật cá nhân nên nghiêm cấm sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được vào mục đích khác.

2.3. Thủ tục gia hạn thời gian áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định tại Điều 226 Bộ luật Tố tụng Hình sự là không quá 02 tháng kể từ ngày Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn.

Trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra theo quy định của BLTTHS. Việc gia hạn thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định như sau:

- Chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, nếu xét thấy cần gia hạn thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng phải có văn bản nêu rõ lý do kèm theo chứng cứ, tài liệu là căn cứ đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp xem xét, quyết định việc gia hạn.

- Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị kèm tài liệu, chứng cứ từ Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phải ra quyết định gia hạn hoặc không gia hạn hoặc có văn bản yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu để xét gia hạn thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

3. Các trường hợp huỷ bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng hình sự đặc biệt

Theo quy định tại iệc huỷ bỏ áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng hình sự đặc biệt được thực hiện trong các trường hợp sau:

- Huỷ bỏ theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng hình sự đặc biệt khi xét thấy không cần thiết phải tiếp tục áp dụng biện pháp điều tra tố tụng hình sự đặc biệt. 

- Viện trưởng viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng hình sự đặc biệt huỷ bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng hình sự đặc biệt nếu:

+) Có căn cứ về việc có vi phạm trong quá trình áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt;

+) Có căn cứ thấy không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

Viện trưởng Viện kiểm sát đãnphê chuẩn ra quyết định hủy bỏ quyết định đó và gửi cho Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định hủy bỏ để chuyển ngay quyết định đó đến cơ quan tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt để kết thúc ngay việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

4. Trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động áp dụng các BPĐTTTĐB

Theo quy định tại Điều 60 Quyết định số 111/QĐ-VKSTC năm 2020, việc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định như sau:

- Kiểm sát viên được phân công nhiệm vụ phải thực hiện kiểm sát chặt chẽ nguyên tắc, căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn và trình tự, thủ tục gia hạn thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, việc sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định tại Chương XVI Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Kiểm sát viên phải yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ là cơ sở áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và phải nghiên cứu thật kỹ lượng sau đó mới báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

- Trong trường hợp có căn cứ và xét thấy cần thiết nhưng Cơ quan điều tra có thẩm quyền lại không ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì lãnh đạo Viện thực hiện quyền kiến nghị theo quy định của pháp luật. 

- Khi xét thấy có căn cứ để huỷ bỏ quyết định áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, kiểm sát Kiểm sát viên kịp thời báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo đúng trình tự, thủ tục luật định.

- Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền và người thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải giữ bí mật.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Các thông tin trên có giá trị tham khảo. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác quý bạn đọc vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê