1. Thế nào là người có chức vụ, quyền hạn?

Theo Điều 352 Bộ luật Hình sự 2015, người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.

Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP, "người có chức vụ" quy định tại khoản 2 Điều 352 Bộ luật Hình sự là những người quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng.

Cụ thể, tại khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 quy định:

[…] 2. Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gồm:

a) Cán bộ, công chức, viên chức;

b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

c) Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;

d) Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức;

đ) Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó […]

Như vậy, người có chức vụ, quyền hạn là người thuộc một trong các trường hợp nêu trên.

2. Khái niệm về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật là lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao để ra lệnh, quyết định hoặc không ra lệnh, quyết định hoặc không chấp hành quyết định hoặc thực hiện việc các hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật.

So sánh Điều 377 BLHS 2015 với Điều 303 BLHS 1999, thấy điều luật mới có những thay đổi cơ bản so với luật cũ như sau: Điều luật mới giữ nguyên quy định việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật (như Điều 303 BLHS 1999) và bổ sung 03 nhóm hành vi: (1) ra lệnh, quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ; (2) thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh hoặc lệnh chưa có hiệu lực; (3) không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam dẫn đến quá hạn.

Về hình phạt, điều luật mới giữ nguyên mức hình phạt tại khoản 1, khoản 2 và khoản 4; tăng mức hình phạt tối đa tại khoản 3 và quy định cụ thể các tình tiết định khung tăng nặng.

Điều 377 Bộ luật Hình sự quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật

Chi tiết Điều 377  Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017

Điều 377. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;

b) Ra lệnh, quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của luật;

c) Không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;

d) Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành;

đ) Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Giam, giữ trái pháp luật từ 02 người đến 05 người;

b) Làm người bị giam, giữ trái pháp luật bị tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Làm người bị giam, giữ hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;

d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Giam, giữ trái pháp luật 06 người trở lên;

b) Làm người bị giam, giữ trái pháp luật tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc chết;

c) Làm người bị giam, giữ tự sát;

d) Làm gia đình người bị giam, giữ ly tán.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

3. Các yếu tố cấu thành tội phạm

– Khách thể của tội phạm, xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do (quyền bất khả xâm phạm) của người bị bắt, giữ, giam. Đối tượng tác động của tội phạm này là người bị bắt, giữ, giam.

– Chủ thể của tội phạm, là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có chức vụ, quyền hạn trong việc bắt, giữ, giam, trả tự do cho người bị bắt, giam, bị giữ mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Gồm những người có nghĩa vụ ra quyết định và những người có nghĩa vụ chấp hành quyết định. Những người có nghĩa vụ ra quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ gồm: Những người tiến hành tố tụng và những được giao một số nhiệm vụ điều tra. Những người có nghĩa vụ chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam giữ bao gồm: Ban giám thị các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam (trại cải tạo những người chấp hành hình phạt tù); cán bộ, chiến sĩ có nhiệm vụ canh giữ, dẫn giải người bị giam giữ (trong một số trường hợp).

Đối với những người không có chức vụ, quyền hạn ra lệnh bắt, giam, giữ người trái pháp luật thì không phải là chủ thể của tội phạm này mà sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật quy định tại Điều 157 BLHS năm 2015.

– Mặt khách quan của tội phạm, là không làm một việc mà có nghĩa vụ phải làm và có thể làm được hoặc làm một việc không đúng, có thể là một trong các nhóm hành vi sau:

– Nhóm 1: Không ra lệnh, quyết định mà theo luật phải thực hiện, như: Không ra quyết định trả tự do, là trường hợp có đủ căn cứ để trả tự do nhưng không ra quyết định trả tự do, dẫn đến người đó vẫn bị bắt, giữ, giam; Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi đã hết hạn, làm cho người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn.

– Nhóm 2: Không chấp hành lệnh, quyết định mà theo luật có nghĩa vụ phải chấp hành, như: Không chấp hành quyết định quyết định trả tự do, là trường hợp tuy đã có quyết định trả tự do nhưng không chấp hành, dẫn đến người đó vẫn bị bắt, giữ, giam.

– Nhóm 3: Ra lệnh, quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ hoặc không đúng người.

– Nhóm 4: Thực hiện hành vi bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành (chưa được Viện kiểm sát phê chuẩn).

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi giam, giữ người trái pháp luật gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.

– Mặt chủ quan của tội phạm, do cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền và việc không ra quyết định trả tự do hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra. Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.

Trường hợp do cẩu thả, thiếu trách nhiệm để quá hạn giữ, giam hoặc thiếu trách nhiệm không giao lệnh, quyết định đến cơ quan có thẩm quyền, dẫn đến người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật thì không xử lý về tội này, mà tùy trường hợp bị xử lý kỷ luật hoặc xử lý tội phạm khác tương ứng.

4. Hình phạt đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật

Điều 377 Bộ luật Hình sự quy định 04 Khung hình phạt đối với người phạm tội như sau:

- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;

+ Ra lệnh, quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của luật;

+ Không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;

+ Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành;

+ Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Giam, giữ trái pháp luật từ 02 người đến 05 người;

+ Làm người bị giam, giữ trái pháp luật bị tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

+ Làm người bị giam, giữ hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;

+ Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

+ Giam, giữ trái pháp luật 06 người trở lên;

+ Làm người bị giam, giữ trái pháp luật tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc chết;

+ Làm người bị giam, giữ tự sát;

+ Làm gia đình người bị giam, giữ ly tán.

- Khung hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn

Theo Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng 2020, người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội phải thực hiện quy tắc ứng xử, bao gồm:

Các chuẩn mực xử sự là những việc phải làm hoặc không được làm phù hợp với pháp luật và đặc thù nghề nghiệp nhằm bảo đảm liêm chính, trách nhiệm, đạo đức công vụ.

Cụ thể, người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị không được làm những việc sau đây:

- Nhũng nhiễu trong giải quyết công việc;

- Thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác;

- Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết;

- Thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã thuộc lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý trong thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ;

- Sử dụng trái phép thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

- Những việc khác mà người có chức vụ, quyền hạn không được làm theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Doanh nghiệp và luật khác có liên quan.

- Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

- Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.

- Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và người giữ chức danh, chức vụ quản lý khác trong doanh nghiệp nhà nước không được:

+ Ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột;

+ Cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình;

+ Bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp.