Trong các toà án chỉ có toà án nhân dân cấp huyện và toà án nhân dân cấp tỉnh là có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc dân sự. Do vậy, việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa toà án các cấp được thực hiện đối với toà án nhân dân cấp huyện và toà án nhân dân cấp tỉnh.

1. Cơ sở của việc phân định thẩm quyền của toà án các cấp.

Cơ sở của việc phân định thẩm quyền giữa các cấp toà án là đường lối, chính sách của Đảng về hoạt động tư pháp, tính chất phức tạp của từng loại vụ việc, hệ thống tổ chức toà án, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thực tế của đội ngũ cán bộ toà án, điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cũng như hiệu quả kinh tế của việc giải quyết vụ việc. Ngoài ra, việc phân định thẩm quyền giữa các cấp toà án cũng phải trên cơ sở đảm bảo thuận lợi cho việc tham gia tố tụng của đương sự cũng như hiệu quả thực tế của việc bảo vệ quyền lợi cho họ. Vì vậy, việc mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của toà án nhân dân cấp huyện sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của mình và thuận lợi cho toà án trong việc giải quyết nhanh chóng vụ việc, kịp thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự. Đây cũng là một giải pháp để giảm áp lực về công việc cho toà án nhân dân cấp tỉnh, tạo điều kiện cho toà án nhân dân cấp tỉnh có thể tập trung vào việc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm nhằm nâng cao chất lượng xét xử của toà án.

2. Thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện.

Về nguyên tắc, toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hầu hết các vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền dân sự của toà án, trừ những vụ việc thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp tỉnh. Đối với những vụ việc có tính chất phức tạp đòi hỏi những điều kiện đặc biệt về chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ toà án cũng như những điều kiện về phương tiện kỹ thuật, về uỷ thác tư pháp với nước ngoài hoặc những vụ việc mà việc giải quyết của toà án nhân dân cấp huyện không đảm bảo sự vô tư, khách quan sẽ thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp tỉnh. Hiện nay, các quy định của Điều 35 và Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về phân định thẩm quyền của toà án nhân dân các cấp cũng tuân theo nguyên tắc này.

Theo quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi thì toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:

- Các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền dân sự của toà án; tranh chấp, yêu cầu về huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cu trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam.

- Một số tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận (khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015); yêu cầu huỷ bỏ nghị quyết của đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp (khoản 1 Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

- Các tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền của toà án (Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015); yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể vô hiệu (khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Tuy vậy, đối với những tranh chấp, yêu cầu trên mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho toà án nước ngoài thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án nhân dân cấp huyện.

3.Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các loại vụ việc saù:

Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa công ty với người quản lý ttong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên hội đồng quản ttị, giám đốc, tổng giảm đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thế, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại; yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quỳ định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam, về hàng hải Việt Nam; yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

- Đối với những tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho toà án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của toà án nước ngoài; quyết định về tài sản trong bàn án, quyết định hình sự, hành chính của toà án nước ngoài; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh, thương mại, phán quyết lao động của trọng tài nước ngoài.

Ngoài ra, toà án nhân dân cấp tỉnh còn có thẩm quyền sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền cùa toà án nhân dân cấp huyện mà toà án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của toà án nhân dân cấp huyện. Thông thường, toà án nhân dân cấp tỉnh, có thể lấy những vụ việc thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện để giải quyết trong những trường hợp việc vận dụng pháp luật, chính sách có nhiều khó khăn, phức tạp; việc điều ưa thu thập chứng cứ có nhiều khó khăn hoặc phải giám định kỹ thuật phức tạp; đương sự là cán bộ chủ chốt ở địa phương, những người có uy tín ttong tôn giáo mà xét thấy việc xét xử ở toà án nhân dân cấp huyện không có lợi về chính trị hoặc vụ việc có liên quan đến thẩm phán, phó chánh án, chánh án toà án nhân dân cấp huyện. Theo yêu cầu của đương sự, toà án nhân dân cấp tỉnh cũng có thể lấy những vụ việc thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện lên để xét xử nếu xét thấy có lý do chính đáng.

4. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ.

Theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì:

Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

- Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

- Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

- Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

- Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

- Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;

- Tòa án nơi người yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

- Tòa án đã ra quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;

- Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài;

- Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

5. Những yêu cầu lao động nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án?

Theo Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì:

Những yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.

2. Yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công.

3. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

4. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết lao động của Trọng tài nước ngoài.

5. Các yêu cầu khác về lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về thẩm quyền tòa án nhân dân các cấp cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê