62 năm ngày Tuyên ngôn nhân quyền ra đời
Ngày 10-12-2008 là kỷ niệm 60 năm ngày ra đời của Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (LHQ). Nhiều quốc gia đã kỷ niệm trọng thể ngày này. Từ Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam đưa tin Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã gửi thư tới Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, khẳng định những bước tiến trong việc bảo đảm quyền con người tại Việt Nam.
Bản Tuyên ngôn nhân quyền gồm 30 điều, được Liên Hiệp Quốc thông qua sau Thế Chiến II đã nhấn mạnh quyền và tự do của mọi người trên khắp thế giới. Tuyên ngôn này được xem là nền tảng cơ bản của luật pháp quốc tế cũng như là cơ sở để LHQ có hành động đối với các vi phạm nhân quyền.
Kỷ niệm 60 năm ngày Tuyên ngôn nhân quyền ra đời, Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon cho rằng việc tuân thủ tuyên bố nhân quyền ngày nay cũng cần như hồi năm 1948. Ông Ban nói rằng “vẫn còn đàn áp chính trị tại quá nhiều nước trên thế giới”.
Theo BBC, trước lễ kỷ niệm ngày 10-12-2008, hàng trăm luật sư, nhà văn, nghệ sĩ và học giả Trung Quốc đã ra tuyên bố trên mạng, kêu gọi tự do hơn ở Trung Quốc cùng với các cải cách dân chủ.
Trong khi đó, Cao ủy Nhân quyền LHQ, Navanethem Pillay, đã hoan nghênh cam kết từ Tổng thống mới được bầu Obama, theo đó đóng cửa trại giam Guantanamo của Mỹ, vốn đang giam hàng trăm nghi phạm khủng bố bị bắt kể từ vụ 11-9.
Cựu Cao ủy Nhân quyền LHQ, Mary Robinson, gọi tuyên bố là “một thông điệp toàn cầu quan trọng nhất về nhân phẩm và quyền bình đẳng của mọi người”. Bà nói : “Nó là nguồn cảm hứng cho hàng triệu người đấu tranh vì tự do và công bằng trong sáu thập kỷ qua, cũng như là niềm hy vọng đối với người dân khắp thế giới”.
Nhưng bà cũng nói rằng nhiều việc cần phải làm nhằm thực hiện những khát vọng nêu ra trong Tuyên ngôn. Bà nói rằng đối với phụ nữ trên toàn thế giới, bạo hành trong gia đình vẫn là một thực tế hàng ngày, và khoảng một tỷ người “đang bị từ chối quyền cơ bản hàng ngày là có đủ lương thực và nước sạch”.
Hồ Chủ Tịch nói về nhân quyền
Trong Bản tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2-9-1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chủ tịch cũng đã nêu rõ những quyền bất khả xâm phạm của con người - cần được tôn trọng.
Nguyên văn đoạn mở đầu của Tuyên ngôn độc lập như sau:
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Suốt mấy chục năm qua, dân tộc ta đã đấu tranh không ngừng nghỉ vì những quyền thiêng liêng ấy.
Hiến Pháp, và rất nhiều văn bản pháp luật đã khẳng định điều đó. Việt Nam cũng đã tham gia các công ước quốc tế về nhân quyền.
Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh 2-9-2010, Haimat.vn trân trọng giới thiệu toàn văn bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948) như dưới đây.
Để mỗi người chúng ta hiểu biết thêm về nhân quyền.
| TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948) LỜI MỞ ÐẦU Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới, Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, đượïc giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người, Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền, Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn, Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản, Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy. Vì vậy, ÐẠI HỘI ÐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ. Ðiều 1: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái. Ðiều 2: Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác. Ðiều 3: Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể. Ðiều 4: Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ. Ðiều 5: Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm. Ðiều 6: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu. Ðiều 7: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này. Ðiều 8: Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận. Ðiều 9: Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán. Ðiều 10: Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiã vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc. Ðiều 11: Ðiều 12: Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy. Ðiều 13: Ðiều 14: Ðiều 15: Ðiều 16: Ðiều 17: Ðiều 18: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng. Ðiều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. Ðiều 20: Ðiều 21: Ðiều 22: Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia. Ðiều 23: Ðiều 24: Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả lương. Ðiều 25: Ðiều 26: Ðiều 27: Ðiều 28: Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ. Ðiều 29: Ðiều 30: Không một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này. PHỤ ĐÍNH 1: CÁC ĐIỀU KHOẢN NHÂN QUYỀN TRONG HIẾN CHƯƠNG LIÊN HIỆP QUỐC (1945) Điều 1: Những mục tiêu của Liên Hiệp Quốc là: 1. Duy trì hòa bình và an ninh thế giới. 2. Phát triển tương quan hữu nghị giữa các quốc gia đặt căn bản trên sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng quyền lợi và quyền dân tộc tự quyết, cùng thi hành mọi biện pháp thích nghi để củng cố hòa bình thế giới. 3. Đạt tới sự hợp tác quốc tế nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá, hay nhân đạo, và phát huy, khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo. Điều 55: Nhằm mục đích đạt được những điều kiện về ổn định và phúc lợi cần thiết cho việc thiết lập những tương quan hòa bình và hữu nghị giữa các quốc gia đặt căn bản trên sự bình đẳng quyền lợi và quyền dân tộc tự quyết, Liên Hiệp Quốc đề xướng thực thi: a. Một mức sống cao hơn, sự toàn dụng nhân công và tạo những điều kiện tiến bộ và phát triển về kinh tế xã hội b. Tìm kiếm những giải pháp cho những vấn đề kinh tế xã hội và văn hóa, thực thi sự hợp tác quốc tế về văn hóa và giáo dục, và c. Tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo. Điều 56: Các Quốc Gia Hội Viên cam kết, bằng những hành động riêng rẽ hay phối hợp, sẽ cộng tác với Liên Hiệp Quốc trong việc thực hiện những mục tiêu ghi trong điều 55 nói trên. (Theo Wikipedia) |
THANH BÌNH (Nguồn: Ecolaw.vn)