- 1. Bản chất quyền con người
- 2. Quyền con người trên thực tế
- 3. Lịch sử trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- 4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- 5. Các quan điểm trên thế giới về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- a. Thuyết cổ điển
- b. Quan điểm của người theo học thuyết trách nhiệm khách quan (lý thuyết rủi ro)
1. Bản chất quyền con người
Theo từ điển bách khoa, Nhân quyền (hay quyền con người) là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào.
Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đưa ra một nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ. Các chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson đã nêu, mà chính các chính phủ đó để bảo vệ các quyền tự do đó – các quyền mà mọi cá nhân "hiển nhiên có" do sự tồn tại của mình.
Trong lịch sử xã hội loài người, ở mỗi một giai đoạn khác nhau, con người ta được sinh ra và được hưởng thụ những giá trị tinh thần và vật chất khác nhau. Nhưng có một điểm chung của con người trong các giai đoạn phát triển đó là con người được sinh ra trong xã hội nào cũng đều có những nhu cầu cơ bản. Từ những nhu cầu thiết yếu nhất như ăn, mặc, ở cho đến những nhu cầu cao hơn về kinh tế, chính trị, xâ hội,... Đây là những nhu cầu khách quan gắn với sự tồn tại, phát triển tất yếu của con người và xã hội. “Các nhu cầu khách quan của con người tạo ra quyền con người. Một nhu cầu cơ bản của con người, về logic, sẽ tạo ra một quyền”
Như vậy, về bản chất, quyền con người không phải là ý chí chủ quan của một giai cấp, một tầng lớp hay một con người cụ thể, mà nó là quyền tự nhiên và được hình thành một cách khách quan ngay từ khi con người được sinh ra.
Ở mỗi một thời kì lịch sử khác nhau, mỗi một quốc gia khác nhau, quyền con người được ghi nhận và bảo vệ ở các mức độ và phạm vi khác nhau.
Trong xã hội ngày nay, vấn đề bảo vệ quyền con người ngày càng được quan tâm sâu sắc và nó giống như một cuộc cách mạng đang hàng ngày được tiến hành ở mỗi châu lục, mỗi quốc gia, mỗi tầng lớp,... khác nhau. Việc bảo vệ quyền con người được thực hiện bằng nhiều công cụ khác nhau, mà một trong những công cụ có tính hiện thực nhất đó là công cụ pháp lý. Tức là “để thực hiện quyền con người ở nghĩa tự nhiên cần phải thể chế hóa quyền đó thành các quyền pháp lý”
=> Kết luận: Như vậy, có thể khái quát, quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế.
2. Quyền con người trên thực tế
Thực tế hiện nay cho thấy, pháp luật Việt Nam đang ngày càng thể hiện sự hoàn thiện trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người ở mọi lũih vực của đời sống xã hội. Điều đó thể hiện ngay trong bản Hiến pháp năm 2013, trong đó quyền con người tiếp tục được ghi nhận và được khẳng định ở một vị trí quan trọng. Trong các văn bản pháp luật được ban hành sau đó, quyền con người cũng được ghi nhận và bảo đảm cả về mức độ, phạm vi. Và để bảo đảm cho công dân được hưởng các quyền con người thực sự, quan điểm lập pháp của Nhà nước ta cũng hướng tới việc ghi nhận cho các công dân được quyền tự do trong việc thực hiện các hành vi nhằm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của mình. Tuy nhiên, sự tự do của mỗi người luôn nằm trong mối quan hệ với sự tự do của những người khác, tức là việc thực hiện quyền tự do của mình cũng phải bảo đảm quyền tự do của người khác. Nhà tư tường Motesquieu cũng đã đưa ra quan điểm về tự do như sau: “Tự do là quyền được làm tất cả những điều mà pháp luật không cấm. Nếu một công dân làm điều trái luật thì anh ta không còn được tự do nữa; vì nếu để anh ta tự do làm thì mọi người đều được làm trái luật cả”.
Tư tưởng trên về sau được cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người, trong đó tại Điều 4 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 cũng khẳng định: “Tự do bao gồm quyền có thể làm mọi điều không gây hại cho người khác. Như vậy việc thực hành các quyền tự nhiên của mỗi người chỉ bị giới hạn trong việc bảo đảm cho các thành viên khác của xã hội được hưởng các quyền đó; các giới hạn này chỉ có thể do pháp luật quy định'''
Theo các tư tưởng trên, tự do phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật và sự tôn trọng các quyền của người khác. Sự tự do của mỗi người khi đã vượt quá giới hạn cho phép của luật (làm những điều trái luật) có thể gây ra những thiệt hại cho người khác. Điều đó có nghĩa rằng việc ghi nhận và bảo đảm hiện thực hóa các quyền con người nếu không có sự kiểm soát bằng các thiết chế sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đối với từng cá nhân, mà nó còn cỏ thể ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của cả một quốc gia, dân tộc.
3. Lịch sử trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Để bảo đảm quyền con người không chỉ là sự ghi nhận và cho phép mỗi công dân được tự do thực hiện các hành vi mà luật không cấm, mà đó còn là việc xây dựng các thiết chế nhằm ngăn chặn hành vi lạm dụng quyền tự do và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi chủ thể trước những sự vi phạm đó. Qua những phân tích này cho thấy, việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người là một trong những cơ sở quan trọng cho việc hình thành và phát triển của các chế định pháp luật, trong đó có chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của các chế định pháp luật có thể thấy chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định có lịch sử hình thành và phát triển sớm trong các chế định pháp luật dân sự.
Trên thế giới, quá trình hình thành và phát triển của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó có hai giai đoạn điển hình đó là:
- Giai đoạn bồi thường dựa trên chế độ tư nhân phục cừu;
- Bồi thường dựa trên chế độ thục kim.
Ở Việt Nam, trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hình thành và phát triển cũng chịu ảnh hưởng của các tư tưởng pháp luật của các quốc gia trên thế giới trong từng thời kỳ khác nhau. Do đó, quan điểm về bồi thường thiệt hại trong các thời kỳ khác nhau cũng có sự thay đổi rõ rệt.
- Trong thời kì phong kiến, chế định trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng nói riêng “được quy định sơ sài và tản mát, các quy định này không phân biệt rõ trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự”. Tức là trong thời kỳ này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thể hiện trong các văn bản pháp luật về hình sự và người gây thiệt hại thường phải chịu cả trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự. Các quy định pháp luật đều nhằm hướng tới bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị chứ không chú trọng vào việc bảo vệ quyền con người trong xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội và công cuộc đấu tranh giành độc lập, các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng cũng có những thay đổi cho phù họp với thực tế đời sống xã hội.
- Trong giai đoạn hiện nay, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dựa trên nền tảng của các quy định mang tính nguyên tắc của trách nhiệm dân sự. Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người phải bồi thường với người được bồi thường. Các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hướng tới bảo vệ quyền lợi của những người bị thiệt hại, và sâu xa hơn là nhằm hướng tới bảo vệ quyền con người và các quyền cơ bản của công dân.
4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trong khoa học pháp lý dân sự, khi nói đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng nhất cho rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật (hành vi gây thiệt hại). Đây không chỉ là quan điểm của các học giả nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, mà đó cũng là quan điểm của các học giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Ta có thể minh chứng cho quan điểm này bằng một số khái niệm như sau:
- “Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người có hành vỉ trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tinh mạng, các quyền nhân thân ...”; hoặc
- “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là quy định của luật dân sự nhằm buộc người cỏ hành vi xâm phạm đến tài sản, sức khỏe, tính mạng,... của các chủ thể khác mà gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại mà mình gây rá”.
Theo Bộ luật dân sự 2015 không quy định cụ thể các Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
Như vậy, theo Bộ luật dân sự 2015 căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”. Theo quy định trước đây, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc vô ý”.
Với quy định như vậy của Bộ luật trước, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi. Nhưng tại Bộ luật dân sự 2015 đã quy định căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại.
Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện:
- Có thiệt hại xảy ra;
- Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.
=> Bộ luật dân sự 2015 được thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017) đã có sự thay đổi cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó nguyên nhân dẫn đến thiệt hại được đề cập tại Điều 584 Bộ luật này không chỉ có hành vi mà còn có hoạt động của tài sản. Điều này cho thấy, khi Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực thi hành, các quan điểm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ phải thay đổi cho phù hợp với quan điểm của các nhà lập pháp.
Tức là khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không chỉ được xây dựng trên cơ sở hành vi gây thiệt hại, mà còn phải dựa vào cả trường họp tài sản gây ra thiệt hại, nhưng vẫn dựa trên nền tảng của trách nhiệm dân sự nói chung. Theo đó, khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể được hiểu như sau:
“TNBTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự mà trong đó một hoặc nhiều chủ thể phải bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu khi các đối tượng được pháp luật bảo vệ bị xâm phạm”.
5. Các quan điểm trên thế giới về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Có những quan điểm sau đây về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trong khoa học pháp lý thế giới, có nhiều học thuyết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hình thành, phát hiển qua nhiều thời kì lịch sử khác nhau. Trong đó có hai học thuyết điển hình vẫn còn tồn tại trong khoa học pháp lý dân sự hiện đại, đó là học thuyết cổ điển (quan điểm cổ điển) và học thuyết trách nhiệm khách quan (quan điểm trách nhiệm khách quan; hay còn gọi là lý thuyết rủi ro). Những quan điểm sau đây về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được thể hiện như sau:
a. Thuyết cổ điển
Những người theo thuyết cổ điển cho rằng, “cần phải có một sự quá thất (có lỗi) mới có trách nhiệm dân sự”.
Theo học thuyết này, người bị thiệt hại muốn được bồi thường thì phải chứng minh lỗi của người gây thiệt hại. Những tư tưởng trong học thuyết này còn tồn tại cho đến tận ngày nay và được cụ thể hóa trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới, trong đó có Việt Nam trước đây. "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại".
Thực tế cho thấy, học thuyết này chỉ phù họp với trường họp bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra. Tuy nhiên, học thuyết này cũng có những hạn chế mà nếu không khắc phục được sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.
Bởi vì, trên thực tế, trong nhiều trường hợp, sự kiện gây thiệt hại xảy ra nhưng người bị thiệt hại không thể chứng minh được lỗi của người gây thiệt hại hoặc thiệt hại xảy ra mà không một chủ thể nào có lỗi. Do đó, “nếu buộc nạn nhân phải dẫn chứng lỗi, tức là gián tiếp bác bỏ quyền đòi bồi thường của nạn nhân”.
Hiện nay quan điểm lập pháp trong Bộ luật dân sự 2015 dường như chống lại quan điểm cổ điển này.
Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi hay do tài sản gây ra đều không phụ thuộc vào điều kiện lỗi, tức là người bị thiệt hại chỉ cần chứng minh có thiệt hại xảy ra, có nguyên nhân gây thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả là đã có thể yêu cầu người gây thiệt hại hoặc người có liên quan phải bồi thường thiệt hại.
b. Quan điểm của người theo học thuyết trách nhiệm khách quan (lý thuyết rủi ro)
Theo quan điểm của những người theo học thuyết trách nhiệm khách quan (lý thuyết rủi ro), trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh không phụ thuộc vào yếu tố lỗi của bất cứ chủ thể nào.
Theo đó, chỉ cần có thiệt hại xảy ra, có hành vi hoặc hoạt động của tài sản gây ra thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả thì người bị thiệt hại đã có thể yêu cầu BTTH mà không cần chứng minh lỗi của người phải bồi thường.
Do đó, học thuyết này gắn liền với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra. Những người ủng hộ cho học thuyết này thường đưa ra nhiều lý do để bảo vệ, và một trong những lý do có tính thuyết phục nhất đó là “lý do công bằng xã hội”.
Đây không phải là học thuyết mới xuất hiện trong pháp luật dân sự hiện đại, mà nó xuất hiện từ thời La Mã cổ đại. Trong thời kỳ La Mã cổ đại, “khi một sự tổn hại đã do một súc vật hay một người nô lệ gây nên, người chủ phải chịu trách nhiệm”. Cho đến ngày nay, học thuyết này vẫn tồn tại và được nhiều luật gia, học giả, nhà nghiên cứu thừa nhận, ủng hộ cho học thuyết này, một số luật gia của Pháp đã căn cứ vào các án lệ của Pháp để khẳng định rằng “trách nhiệm do tác động của các vật vô tri phải là một trách nhiệm khách quan rõ rệt không căn cứ vào quá thất (lỗi)”.
Khi nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, quan điểm của nhiều học giả Việt Nam cũng phù hợp với học thuyết này khi cho rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra không cần điều kiện về lỗi.
Như vậy, để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ cần 3 điều kiện sau đây:
- Có thiệt hại thực tế xảy ra;
- Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại thực tế đã xảy ra.
Quan điểm này không chỉ được thể hiện khi nghiên cứu tổng thể các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, mà khi nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, những người theo quan điểm này cũng khẳng định “trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là loại trách nhiệm không cần điều kiện lỗi”
Trên cơ sở những phân tích ở trên có thể thấy rằng, trong khoa học pháp lý thế giới vẫn còn tồn tại các học thuyết đối lập nhau về TNBTTH ngoài hợp đồng. Mặc dù vậy, mỗi học thuyết đều dựa trên nền tảng những lý luận vững chắc và vẫn được áp dụng ở các quốc gia khác nhau cho đến tận ngày này.
Trân trọng!