1. Khái quát lịch sử phát triển của vấn đề quyền của người lao động di trú

Từ giữa thế kỷ XX vấn đề người lao động di trú đã được đề cập trên các diễn đàn quốc tế, trong đó Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là chủ thể đi tiên phong. Điều ước đầu tiên mà ILO thông qua về người lao động di trú là Công ước số 97 năm 1949 về lao động di trú. Công ước này yêu cầu các quốc gia thành viên phải đối xử với những người lao động di trú một cách bình đẳng như những người lao động là công dân của nước mình. Năm 1975, ILO thông qua Công ước số 143 về Người di trú trong môi trường bị lạm dụng và việc thúc đẩy sự bình đẳng về cơ hội và trong đối xử với người lao động di trú, trong đó yêu cầu các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo vệ tất cả các quyền con người của người lao động di trú. Ngoài ra, ILO còn thông qua một số văn kiện khác có liên quan đến vấn đề này, bao gồm Khuyến nghị số 51 về người lao động di trú, năm 1975; Công ước số 29 về xóa bỏ lao động cưỡng bức và bắt buộc, năm 1930; và Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức, năm 1957... Ngoài ILO, từ cuối thập kỷ 70 thế kỷ XX, Liên hợp quốc cũng bắt đầu quan tâm đến việc bảo vệ người lao động di trú. Văn kiện đầu tiên của Liên hợp quốc về vấn đề này là Nghị quyết số 1706 (LIII) ngày 28-7- 1972 của Hội đồng Kinh tế và Xã hội (ECOSOC), trong đó lên án việc tuyển dụng trái pháp luật, đưa lậu người lao động vào một số nước châu Âu và tình trạng phân biệt đối xử với người lao động di trú, đồng thời, yêu cầu các quốc gia có liên quan phải thi hành những biện pháp để trừng phạt những kẻ vi phạm và ngăn chặn tình trạng này. Cũng trong Nghị quyết này, ECOSOC chỉ thị cho Ủy ban Quyền con người Liên hợp quốc nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy các hoạt động về bảo vệ quyền của người lao động di trú. Cùng năm 1972, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 2920 (XXVII) (ngày 15-11- 1972) về thực trạng phân biệt đối xử với người lao động nước ngoài ở một số nước châu Âu và ở một số nơi khác, trong đó kêu gọi chính phủ những nước liên quan thực thi các biện pháp nhằm chấm dứt sự đối xử phân biệt với người lao động di trú trên lãnh thổ nước mình và cải thiện các điều kiện cho việc tiếp nhận người lao động di trú.

 

2. Biện pháp cần thực hiện để bảo vệ quyền con người của người lao động di trú

Dựa trên hai nghị quyết của Đại hội đồng và Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc, Ủy ban Quyền con người Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 1789 (LIV) ngày 18-5-1973, trong đó hối thúc các quốc gia phê chuẩn các công ước có liên quan của ILO và ký kết những hiệp ước song phương về vấn đề lao động di trú. Nghị quyết này cũng yêu cầu Tiểu ban về chống phân biệt đối xử và bảo vệ người thiểu số159 và Ủy ban về vị thế của phụ nữ nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị về các biện pháp cần thực hiện để bảo vệ quyền con người của người lao động di trú. Ngày 16-12-1976, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết số 31/127 về “Các biện pháp cải thiện tình hình và bảo đảm các quyền con người cùng nhân phẩm của người lao động di trú”. Nghị quyết này kêu gọi các quốc gia thực thi những biện pháp thích hợp nhằm ngăn chặn và chấm dứt mọi sự phân biệt đối xử chống lại người lao động di trú, cũng như bảo đảm thực hiện có hiệu quả những biện pháp này trên thực tế. Cũng trong Nghị quyết này, Đại hội đồng Liên hợp quốc yêu cầu các quốc gia tiếp nhận lao động phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả những chính sách liên quan đến đào tạo, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, giáo dục và đời sống văn hóa cho người lao động di trú cùng những thành viên trong gia đình họ và bảo vệ người lao động của nước mình đang làm việc ở nước ngoài. Trong các nghị quyết tiếp theo (Nghị quyết số 32/120 ngày 16-12-1977 và Nghị quyết số 33/163 ngày 20-12-1978) Đại hội đồng Liên hợp quốc yêu cầu ECOSOC và Ủy ban Quyền con người Liên hợp quốc phối hợp với ILO, UNESCO và các cơ quan có liên quan khác trong hệ thống Liên hợp quốc trong các hoạt động về bảo vệ quyền của người lao động di trú, đồng thời kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên phê chuẩn Công ước về người lao động di trú (các điều khoản bổ sung) của ILO (Công ước số 143 năm 1975). Đặc biệt, Nghị quyết số 33/163 còn yêu cầu Tổng thư ký Liên hợp quốc tham khảo ý kiến của các quốc gia thành viên và của ILO về khả năng soạn thảo một điều ước quốc tế về quyền của người lao động di trú. Trong Nghị quyết số 34/172 ngày 17-12-1979, Đại hội đồng Liên hợp quốc quyết định thành lập một Nhóm công tác (mở cho tất các nước thành viên và các tổ chức quốc tế khác cử đại diện tham gia) để soạn thảo Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ (ICRMW). Nhóm công tác bắt đầu công việc soạn thảo công ước từ đầu năm 1980 và kết thúc vào tháng 6 năm 1990. Dự thảo công ước được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết số 45/158 ngày 18-12-1990160. Ngày 18 tháng 12 hằng năm được Liên hợp quốc lấy là Ngày quốc tế về Người lao động di trú261 nhằm nhắc nhở cộng đồng quốc tế về sự cần thiết và tính cấp thiết phải tôn trọng, thực hiện và bảo vệ các quyền con người của nhóm xã hội này. Xét chung, trong hơn nửa thế kỷ qua, đã có hàng trăm văn kiện quốc tế được thông qua trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến quyền và việc bảo vệ quyền của người lao động di trú.

 

3. Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người lao động di trú và gia đình họ

Mặc dù hệ thống điều ước quốc tế về quyền của người lao động di trú bao gồm nhiều văn kiện, tuy nhiên, cho đến nay, Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ vẫn được coi là điều ước quốc tế trực tiếp và toàn diện nhất về vấn đề này. Công ước tái khẳng định và cụ thể hóa định nghĩa về người lao động di trú (migrant worker) đã được đề cập trong Công ước số 97 của ILO năm 1949, đồng thời bổ sung định nghĩa các thành viên trong gia đình họ. Bên cạnh đó, Công ước quy định một hệ thống quyền con người của người lao động di trú khá toàn diện và cụ thể, đóng vài trò là nền tảng pháp lý cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích của người lao động di trú trên thực tế. Có thể coi là nội dung có ý nghĩa lớn nhất của Công ước với việc bảo vệ nhóm xã hội này, bởi lẽ nhiều quyền quan trọng được nêu trong Công ước chưa hề được các văn kiện quốc tế trước đó đề cập, hoặc mới chỉ được đề cập trong những văn kiện không ràng buộc về mặt nghĩa vụ pháp lý của các quốc gia (các văn kiện ‘mềm’). Tương tự như với những nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác như phụ nữ, trẻ em, người thiểu số... các quyền con người được quy định trong Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình h ọ đã tính đến hoàn cảnh và nh ững nhu cầu đặc thù của nhóm. Những quyền đặc thù này chỉ có thể áp dụng với người lao động di trú mà không áp dụng với bất kỳ nhóm xã hội nào khác. Một số quyền tiêu biểu trong đó có thể kể như: Quyền mang theo số tiền kiếm được và tiết kiệm khi hồi hương ( Điều 26); Quyền không bị trục xuất tập thể ( Điều 22); Quyền được nhận sự hỗ trợ, bảo vệ của một cơ quan ngoại giao hoặc lãnh sự của quốc gia xuất xứ, hoặc của quốc gia đại diện cho lợi ích của quốc gia xuất xứ khi các quyền được thừa nhận trong Công ước này bị vi phạm ( Điều 23)...

 

4. Khái niệm và phân loại “người lao động di trú”

Điều 2 ICRMW định nghĩa người lao động di trú là m ột người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân. Dựa vào tính pháp lý của việc cư trú và lao động, Điều 2 Công ước chia người lao động di trú và các thành viên gia đình họ thành hai loại: có giấy tờ hợp pháp và không có giấy tờ hợp pháp. Những người lao động di trú được xem là có giấy tờ hợp pháp khi họ được phép vào, ở lại và tham gia làm một công việc được trả lương tại quốc gia, nơi có việc làm theo pháp luật quốc gia đó và theo những hiệp định quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Những người lao động di trú được xem là không có giấy tờ hợp pháp khi họ không đáp ứng được các điều kiện đã nêu. Dựa trên tiêu chí nghề nghiệp, Điều 2 ICRMW liệt kê 8 dạng đối tượng được coi là lao động di trú, bao gồm: “Nhân công vùng biên” - chỉ những người lao động di trú thường trú tại một nước láng giềng nơi họ thường trở về hàng ngày hoặc ít nhất mỗi tuần một lần;  “Nhân công theo mùa” - chỉ những người lao động di trú làm những công việc có tính chất mùa vụ và chỉ làm một thời gian nhất định trong năm;  “Nhân công đi biển” - chỉ những người lao động di trú được tuyển dụng làm việc trên một chiếc tàu đăng ký tại một quốc gia mà họ không phải là công dân, bao gồm cả thủy thủ; “Nhân công làm việc tại một công trình trên biển” - chỉ những người lao động di trú được tuyển dụng làm việc trên một công trình trên biển thuộc quyền tài phán của một qu ốc gia mà họ không phải là công dân;  “Nhân công lưu động” - chỉ những người lao động di trú sống thường trú ở một nước phải đi đến một hoặc nhiều nước khác nhau trong những khoảng thời gian do tính chất công việc của người đó; “Nhân công theo dự án” - chỉ những người lao động di trú được nhận vào quốc gia nơi có việc làm trong một thời gian nhất định để chuyên làm việc cho một dự án cụ thể đang được người sử dụng lao động của mình thực hiện tại quốc gia đó;  “Nhân công lao động chuyên dụng” - chỉ những người lao động di trú mà được người sử dụng lao động của mình cử đến quốc gia nơi có việc làm trong một khoảng thời gian hạn chế nhất định để đảm nhiệm một công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể mang tính chuyên môn kỹ thuật ở quốc gia nơi có việc làm;  “Nhân công tự chủ” - chỉ những người lao động di trú tham gia làm một công việc có hưởng lương, nhưng không phải dưới dạng hợp đồng lao động mà thường là bằng cách làm việc độc lập hoặc cùng với các thành viên gia đình của mình, hoặc dưới các hình thức khác mà được coi là nhân công tự chủ theo pháp luật của quốc gia, nơi có việc làm hoặc theo các hiệp định song phương và đa phương.

 

5. Những đối tượng không được coi là lao động di trú

Cũng dựa trên tiêu chí nghề nghiệp, Điều 3 ICRMW liệt kê những đối tượng không được coi là lao động di trú, bao gồm:  Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và tổ chức quốc tế, hoặc bởi một nước sang một nước khác để thực hiện các chức năng chính thức; Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi một nước hoặc người thay mặt cho nước đó ở nước ngoài tham gia các chương trình phát triển và các chương trình hợp tác khác; Những người sống thường trú ở một nước không phải quốc gia xuất xứ, để làm việc như những nhà đầu tư; Những người tị nạn và không có quốc tịch; Sinh viên và học viên; Những người đi biển hay người làm việc trên các công trình trên biển không được nhận vào để cư trú và tham gia vào một công việc có hưởng lương ở quốc gia nơi có việc làm. Khái niệm “các thành viên trong gia đình người lao động di trú”: Điều 4 ICRMW định nghĩa các thành viên trong gia đình người lao động di trú là ...những người kết hôn hoặc có quan hệ tương tự như quan hệ hôn nhân với những người lao động di trú hay con cái và những người khác sống phụ thuộc vào họ mà được công nhận là thành viên của gia đình theo pháp luật hiện hành và theo các hiệp định song phương và đa phương giữa các quốc gia liên quan.