1. Người nước ngoài có được sở hữu nhà ở tại Việt Nam ?

Chào luật Minh Khuê! Tôi có anh bạn người Nhật đang muốn mua nhà ở Việt Nam. Anh ấy thắc mắc không biết quyền hạn sử dụng bất động sản Việt Nam như thế nào? Cụ thể như mua nhà ở một thời gian có được bán lại không? Bán lại có ràng buộc như thế nào? Xin quý luật sư cho biết có điều luật nào nói rõ về vấn đề này không? Nếu có xin gửi đính kèm trích dẫn giúp tôi ạ!
Xin cảm ơn luật Minh Khuê rất nhiều!

>> Luật sư tư vấn thủ tục mua nhà đối với người nước ngoài, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Kính chào và cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê của chúng tôi. Với câu hỏi trên chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Theo khoản 1 Điều 7 Luật nhà ở năm 2014: tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 159 thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Theo khoản 1 Điều 159 Luật nhà ở 2014 quy định người nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thuộc các trường hợp sau:

1. Đối tượng tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam bao gồm:

a) Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;

b) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức nước ngoài);

c) Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam.

Trong trường hợp này, anh bạn thuộc trường hợp người nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam hoặc người nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam thì có quyền được sở hữu nhà ở.

* Quyền sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài được quy định tại khoản 2 Điều 161 Luật nhà ở như sau:

"2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 159 của Luật này có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam nhưng phải tuân thủ các quy định sau đây:

a) Chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư; nếu là nhà ở riêng lẻ bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề thì trên một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá hai trăm năm mươi căn nhà.

Trường hợp trong một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường mà có nhiều nhà chung cư hoặc đối với nhà ở riêng lẻ trên một tuyến phố thì Chính phủ quy định, cụ thể số lượng căn hộ, số lượng nhà ở riêng lẻ mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu;

b) Trường hợp được tặng cho, được thừa kế nhà ở không thuộc diện quy định tại điểm b khoản 2 Điều 159 của Luật này hoặc vượt quá số lượng nhà ở quy định tại điểm a khoản này thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó;

c) Đối với cá nhân nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không quá 50 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận và có thể được gia hạn thêm theo quy định của Chính phủ nếu có nhu cầu; thời hạn sở hữu nhà ở phải được ghi rõ trong Giấy chứng nhận.

Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam;

d) Đối với tổ chức nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho, nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không vượt quá thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư cấp cho tổ chức đó, bao gồm cả thời gian được gia hạn thêm; thời hạn sở hữu nhà ở được tính từ ngày tổ chức được cấp Giấy chứng nhận và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận này;

đ) Trước khi hết hạn sở hữu nhà ở theo quy định của Luật này, chủ sở hữu có thể tặng cho hoặc bán nhà ở này cho các đối tượng thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; nếu quá thời hạn được sở hữu nhà ở mà chủ sở hữu không thực hiện bán, tặng cho thì nhà ở đó thuộc sở hữu nhà nước."

Như vậy, anh bạn có quyền mua nhà ở nhưng sẽ bị giới hạn bởi số lượng nhà ở được sở hữu và thời gian sở hữu. Bên cạnh đó, khi muốn bán nhà thì phải bán trong thời hạn sở hữu nhà ở là 50 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận, nếu quá thời hạn này anh bạn sẽ mất quyền bán nhà và ngôi nhà đó sẽ thuộc sở hữu của nhà nước.

>> Xem thêm:  Cá nhân mua nhà chung cư có được cấp sổ hộ khẩu tại nơi ở mới không ?

2. Thời hạn được sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam ?

Điều 161. Quyền của chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm a khoản 1 Điều 159 của Luật này được thực hiện các quyền của chủ sở hữu nhà ở theo quy định tại Điều 10 của Luật này; trường hợp xây dựng nhà ở trên đất thuê thì chỉ được quyền cho thuê nhà ở.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 159 của Luật này có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam nhưng phải tuân thủ các quy định sau đây:

a) Chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư; nếu là nhà ở riêng lẻ bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề thì trên một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá hai trăm năm mươi căn nhà.

Trường hợp trong một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường mà có nhiều nhà chung cư hoặc đối với nhà ở riêng lẻ trên một tuyến phố thì Chính phủ quy định, cụ thể số lượng căn hộ, số lượng nhà ở riêng lẻ mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu;

b) Trường hợp được tặng cho, được thừa kế nhà ở không thuộc diện quy định tại điểm b khoản 2 Điều 159 của Luật này hoặc vượt quá số lượng nhà ở quy định tại điểm a khoản này thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó;

c) Đối với cá nhân nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không quá 50 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận và có thể được gia hạn thêm theo quy định của Chính phủ nếu có nhu cầu; thời hạn sở hữu nhà ở phải được ghi rõ trong Giấy chứng nhận.

Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam;

d) Đối với tổ chức nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho, nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không vượt quá thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư cấp cho tổ chức đó, bao gồm cả thời gian được gia hạn thêm; thời hạn sở hữu nhà ở được tính từ ngày tổ chức được cấp Giấy chứng nhận và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận này;

đ) Trước khi hết hạn sở hữu nhà ở theo quy định của Luật này, chủ sở hữu có thể tặng cho hoặc bán nhà ở này cho các đối tượng thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; nếu quá thời hạn được sở hữu nhà ở mà chủ sở hữu không thực hiện bán, tặng cho thì nhà ở đó thuộc sở hữu nhà nước.

Như vậy thời hạn cá nhân nước ngoài có thể sở hữu nhà ở tại Việt Nam là 50 năm và có thể được gia hạn thêm, trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam. Còn thời hạn sở hữu nhà ở của tổ chức thì không quá thời hạn ghi tỏng giấy hcứng nhận đàu tư đã cấp.
(Luật Minh Khuê biên tập)

>> Xem thêm:  Mức bồi thường thỏa đáng đối với đất nông nghiệp khi bị nhà nước thu hồi ?

3. Thủ tục để Việt Kiều mua nhà thực hiện như thế nào ?

Quốc hội vừa bấm nút thông qua Luật sửa đổi bổ sung điều 126 của Luật Nhà ở và điều 121 của Luật Đất đai cho phép mở rộng diện người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở trong nước. Liệu điều này có tạo ra làn sóng mới nào trên thị trường bất động sản?

Nhiều người lo sẽ có làn sóng đầu cơ nhà đất mới trong khi cơ quan quản lý Nhà nước khẳng định không nên băn khoăn về việc đó. Bộ Xây dựng cho biết, sẽ khẩn trương dự thảo Nghị định để Luật chính thức đi vào cuộc sống từ 1 – 9 tới.

Mở thế nào?

Nói về độ thoáng của chủ trương mới được Quốc hội thông qua, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam bình luận:“Đã mở hết cỡ cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể mua và sở hữu nhà ở trong nước”.Theo Luật sửa đổi, những đối tượng gồm người có quốc tịch Việt Nam; người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước, được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam. Cũng theo Luật sửa đổi, người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng nêu trên được cấp giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.

Mở hết cửa cho Việt Kiều mua nhà ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Sau hơn 8 năm cho phép Việt kiều sở hữu nhà trong nước, mới có 140 người chính thức đứng tên mua nhà

Tính toán của cơ quan chức năng chỉ ra, có khoảng 70% trong tổng số hơn 3 triệu người Việt Nam đang ở nước ngoài vẫn đang giữ quốc tịch gốc. Điều này có nghĩa cơ hội sẽ mở rộng hơn cho đông đảo kiều bào nói chung được mua và sở hữu nhà ở trong nước.

Không ngại đầu cơ

Từ khi chủ trương mở rộng diện Việt kiều được mua nhà trong nước còn là dự Luật được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, mối lo về làn sóng đầu cơ nhà đất mới tại Việt Nam đã khiến dư luận đặc biệt quan tâm. Trả lời câu hỏi này, ông Nguyễn Trần Nam – Thứ trưởng Bộ Xây dựng nói thẳng: “Đầu cơ là hiện tượng đi liền với cơ chế thị trường. Nếu Việt kiều không mua nhà thì hiện tượng đầu cơ nhà đất vẫn diễn ra. Vì thế, cần có sự can thiệp của Nhà nước để làm minh bạch hoạt động này, hạn chế tiêu cực trên thị trường nhà đất”.

Trấn an các nhà đầu tư bất động sản, Thứ trưởng Bộ Xây dựng khẳng định, hạn chế đầu cơ không có nghĩa là cấm đoán, là không khuyến khích. “Không thể chống đầu cơ bằng cách cấm người dân mua hai, ba căn hộ, thửa đất. Nhà nước phải điều tiết bằng chính sách thuế nhằm tăng ngân sách và dùng tiền đó để đầu tư cho các chính sách an sinh xã hội khác. Mỗi lần chuyển nhượng nhà đất là phải nộp thuế, ai mua nhiều, sở hữu nhiều cũng phải nộp thuế. Chính sách thuế áp dụng cho tất cả các đối tượng chứ không chỉ riêng Việt kiều” – Thứ trưởng Nam cho biết.

Cho rằng chủ trương mới không gây biến động lớn cho thị trường nhà đất nhưng các chuyên gia nhận định“tác động nếu có cũng là tích cực”. Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam lập luận: “Kiều bào có tiền, có nguyện vọng mua nhà ở cho bản thân ở trong nước là điều tốt, đáng khuyến khích, sẽ làm tăng trưởng thị trường bất động sản. Tôi hiểu có nhiều người lo ngại việc đầu cơ, nhưng đừng lo việc đó bởi chúng ta có đủ công cụ để hạn chế đầu cơ”. Thêm nữa, giá bất động sản ở Việt Nam đang rất cao, Việt kiều về nước đầu cơ không có lợi. Ngoài ra, không phải Việt kiều nào cũng nhiều tiền. Nhiều kiều bào ở nước ngoài là người lao động chứ không phải ai về cũng có tiền mua nhà. Đến nay, mới có hơn 140 Việt kiều mua nhà trong nước. Giả định số người mua sau này tăng lên 100 lần là 14.000 người, so với nguồn cung trên thị trường cũng chưa ăn thua. Đã vậy, hầu hết Việt kiều đều mua bán ở phân khúc nhà ở cao cấp, không ảnh hưởng nhiều đến mặt bằng chung.

Tránh vết xe cũ

Không thừa khi nhiều người lo Luật thông thoáng nhưng văn bản dưới Luật có thể lại “thắt” khiến giao dịch khó khởi sắc. Con số 140 Việt kiều mua nhà trong nước trong thời gian dài hơn 8 năm qua chính là một minh chứng.

Nhắc lại thời kỳ bí bức vừa qua, ông Nguyễn Mạnh Hà, Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản (Bộ Xây dựng) cho biết, năm 2001, Chính phủ đã ban hành chính sách cho phép 4 đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà tại Việt Nam song thực tế là có rất ít Việt kiều đứng tên mua nhà. Theo ông Hà, cản trở lớn nhất của Nghị định 81/CP là do không có quy định cụ thể về thủ tục. Đơn giản nhất là việc cơ quan nào xác nhận người đó là Việt kiều và đủ điều kiện mua nhà cũng không rõ ràng. Không có gì làm bằng nên rất nhiều địa phương “đảm bảo an toàn” bằng cách… không giải quyết trường hợp nào!“Những năm trước, rất nhiều Việt kiều hỏi về thủ tục mua nhà theo Luật Nhà ở nhưng chính cơ quan quản lý nhà cũng chỉ biết trả lời phải đợi vì chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể! Trong đó, vướng mắc chính là các cơ quan chức năng chưa ban hành được hướng dẫn cụ thể việc xác định thời hạn cư trú tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi cấp visa theo quy định”- ông Hà nói.

Ngoài ra, theo phản ánh của kiều bào, khó khăn, vướng mắc trong việc mua và sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở còn do Nghị định số 90/CP (hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở) không quy định cụ thể các đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam mà giao cho hai cơ quan chức năng ban hành văn bản hướng dẫn, nhưng đến nay hai cơ quan này vẫn chưa thực hiện!

Lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết, những “rào cản” này sẽ được gỡ bỏ trong thời gian tới. Ông Nam cam kết:“Quy định mới chắc chắn sẽ khả thi bởi nó cởi mở hơn nhiều. Sau khi Luật sửa đổi được Quốc hội thông qua, sẽ sớm có Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết để các địa phương tạo điều kiện cho Luật nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả. Đương nhiên, thủ tục sẽ đơn giản và rất cụ thể nhằm khơi thông bế tắc. Chẳng hạn, Chính phủ sẽ hướng dẫn trong trường hợp có nhu cầu mua nhiều nhà thì cần có các điều kiện cụ thể gì hoặc cũng cần quy định về việc cho thuê, chuyển đổi như thế nào… đảm bảo để Luật có thể thực hiện từ 1 – 9 tới đây”.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Có được bán nhà đất đang thế chấp ở ngân hàng không ? Thủ tục mua bán nhà chung cư ?

4. Việt kiều có được dễ dàng mua nhà ở tại Việt Nam không ?

Từ ngày 1-9-2009, Việt kiều sẽ được mua nhà một cách dễ dàng tại Việt Nam. Đó là qui định mới vừa được Quốc Hội thông qua.

Hôm qua, 18-6-2009, Quốc Hội đã thông qua việc sửa đổi, bổ sung nhiều đạo luật quan trọng, trong đó có việc cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở tại Việt Nam. Hiện nay điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài được công nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam được quy định tại Luật Nhà ở 2014.

Quyền, nghĩa vụ khi sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài? Thời hạn sở hữu nhà tại Việt Nam là bao lâu?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Cụ thể, Điều 8 Luật Nhà ở 2014 quy định như sau:

Điều 8. Điều kiện được công nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam; đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có đủ điều kiện quy định tại Điều 160 của Luật này.

2. Có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức sau đây:

a) Đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước thì thông qua hình thức đầu tư xây dựng, mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

b) Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản (sau đây gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản); mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật;

c) Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì thông qua các hình thức quy định tại khoản 2 Điều 159 của Luật này.

Như vậy, có thể thấy Việt kiều sẽ dễ dàng mua được nhà tại Việt Nam.

Bà con Việt kiều nào có ý định mua nhà tại Việt Nam có thể liên hệ với Công ty luật Minh Khuê chúng tôi để được tư vấn, hỗ trợ pháp lý.

- Điện thoại yêu cầu dịch vụ tư vấn luật đất đai: 1900.6162

- Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email

>> Xem thêm:  Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

5. Quyền, nghĩa vụ khi sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi muốn hỏi rằng: đối với tài sản là nhà ở thì người nước ngoài có được mua tại Việt Nam không? Nếu có thì có được sở hữu luôn không? có quyền, nghĩa vụ gì khi sở hữu nhà đó không?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Luật Nhà ở 2014 thì người nước ngoài cũng là đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam:

Điều 7. Đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này.

Điều kiện để cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam:

Điều 160. Điều kiện tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

1. Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam thì phải có Giấy chứng nhận đầu tư và có nhà ở được xây dựng trong dự án theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

2. Đối với tổ chức nước ngoài thì phải có Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ liên quan đến việc được phép hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận đầu tư) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp.

3. Đối với cá nhân nước ngoài thông thường thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật.

4. Chính phủ quy định chi tiết giấy tờ chứng minh đối tượng, điều kiện tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua các hình thức sau đây:

a) Đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;

b) Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.

Thời hạn sở hữu: Cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì được sở hữu nhà trong thời hạn 50 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, trường hợp hết hạn mà muốn gia hạn quyền sở hữu thì phải làm thủ tục gia hạn sở hữu nhà tại Việt Nam:

Nghị định 99/2015 hướng dẫn thủ tục gia hạn quyền sở hữu nhà như sau:

Điều 77. Gia hạn thời hạn sở hữu nhà ở tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài

1. Trường hợp cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở theo quy định tại Điểm c Khỏan 2 Điều 161 của Luật Nhà ở thì việc gia hạn thời hạn sở hữu nhà ở được quy định như sau:

a) Trước khi hết hạn sở hữu nhà ở 03 tháng, nếu chủ sở hữu có nhu cầu gia hạn thêm thì phải có đơn ghi rõ thời hạn đề nghị gia hạn thêm kèm theo bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận đối với nhà ở và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có nhà ở đó xem xét, giải quyết;

b) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị của chủ sở hữu, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét và có văn bản đồng ý gia hạn một lần thời hạn sở hữu nhà ở theo đề nghị của chủ sở hữu nhưng tối đa không quá 50 năm, kể từ khi hết hạn sở hữu nhà ở lần đầu ghi trên Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này;

c) Căn cứ văn bản đồng ý gia hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm ghi gia hạn trên Giấy chứng nhận; cơ quan cấp Giấy chứng nhận phải sao một bản Giấy chứng nhận và chuyển cho Sở Xây dựng để theo dõi.

Quyền sở hữu nhà của người nước ngoài khi được phép nhập cảnh vào Việt Nam:

Có quyền chung của người sở hữu nhà: Có quyền bất khả xâm phạm về nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình; sử dụng nhà ở vào mục đích để ở và các mục đích khác mà luật không cấm; được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình theo quy định của Luật này và pháp luật về đất đai; bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở; trường hợp tặng cho, để thừa kế nhà ở cho các đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì các đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó...

Một số lưu ý:

a) Chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư; nếu là nhà ở riêng lẻ bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề thì trên một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá hai trăm năm mươi căn nhà.

b) Trường hợp được tặng cho, được thừa kế nhà ở không thuộc diện quy định tại điểm b khoản 2 Điều 159 của Luật này hoặc vượt quá số lượng nhà ở quy định tại điểm a khoản này thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó;

Nghĩa vụ chung của người sở hữu nhà theo điều 11 Luật Nhà ở:

a) Đối với chủ sở hữu là cá nhân nước ngoài thì được cho thuê nhà ở để sử dụng vào các mục đích mà pháp luật không cấm nhưng trước khi cho thuê nhà ở, chủ sở hữu phải có văn bản thông báo về việc cho thuê nhà ở với cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện nơi có nhà ở theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng và phải nộp thuế từ hoạt động cho thuê nhà ở này theo quy định của pháp luật.

Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam;

b) Thực hiện thanh toán tiền mua, thuê mua nhà ở thông qua tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thanh lý hợp đồng thuê đất theo quy định của pháp luật ? Thanh lý hợp đồng thuê đất của Nhà nước ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Điều kiện tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam là gì?

Trả lời:

1. Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm a khoản 1 Điều 159 của Luật này thì phải có Giấy chứng nhận đầu tư và có nhà ở được xây dựng trong dự án theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

2. Đối với tổ chức nước ngoài quy định tại điểm b khoản 1 Điều 159 của Luật này thì phải có Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ liên quan đến việc được phép hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận đầu tư) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp.

3. Đối với cá nhân nước ngoài quy định tại điểm c khoản 1 Điều 159 của Luật này thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật.

4. Chính phủ quy định chi tiết giấy tờ chứng minh đối tượng, điều kiện tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Câu hỏi: Nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài là gì?

Trả lời:

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm a khoản 1 Điều 159 của Luật này có các nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở theo quy định tại Điều 11 của Luật này.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 159 của Luật này có các nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam nhưng phải tuân thủ các quy định sau đây:

a) Đối với chủ sở hữu là cá nhân nước ngoài thì được cho thuê nhà ở để sử dụng vào các mục đích mà pháp luật không cấm nhưng trước khi cho thuê nhà ở, chủ sở hữu phải có văn bản thông báo về việc cho thuê nhà ở với cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện nơi có nhà ở theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng và phải nộp thuế từ hoạt động cho thuê nhà ở này theo quy định của pháp luật.

Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam;

b) Đối với chủ sở hữu là tổ chức nước ngoài thì chỉ được sử dụng nhà ở để bố trí cho những người đang làm việc tại tổ chức đó ở, không được dùng nhà ở để cho thuê, làm văn phòng hoặc sử dụng vào mục đích khác;

c) Thực hiện thanh toán tiền mua, thuê mua nhà ở thông qua tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam.

Câu hỏi: Hệ thống thông tin về nhà ở gồm những gì?

Trả lời:

Hệ thống thông tin về nhà ở bao gồm:

1. Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin nhà ở;

2. Hệ thống phần mềm hệ điều hành, phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng;

3. Cơ sở dữ liệu về nhà ở.