1. Cách diễn đạt quyền môi trường trong hiến pháp

Đối với những bản hiến pháp có ghi nhận về quyền môi trường, cách thể hiện điều luật này có thể khác nhau, nhưng tập trung vào hai cách diễn đạt chính. Cách thứ nhất nhấn mạnh yếu tố quyền con người, cụ thể là “người dân có quyền sống trong môi trường trong lành” (Hiến pháp bang Montana- Hoa Kỳ). Cách thứ hai nhấn mạnh nghĩa vụ của nhà nước, “nhà nước phải ban hành luật để đảm bảo rằng môi trường được bảo vệ” (Hiến pháp của một số bang ở Canada). Có những quốc gia đưa cả hai cách trình bày trên vào hiến pháp, như Ấn Độ. Dự thảo Hiến pháp Việt Nam hiện nay cũng sử dụng cả hai cách diễn đạt này (Điều 46 và Điều 68). Cá biệt, Vương quốc Butan có rất nhiều quy định về môi trường trong Hiến pháp, bao gồm cả độ che phủ rừng tối thiểu...

2. Vì sao nhiều nước không đưa quyền môi trường vào hiến pháp?

Vấn đề môi trường ngày càng được thế giới quan tâm, vì vậy, việc đưa các quy định về môi trường vào hiến pháp đang được các quốc gia chú trọng. Tuy nhiên, cũng có nhiều lý do để các quốc gia không đưa quy định này vào hiến pháp của mình. Nguyên nhân đầu tiên có thể kể đến là yếu tố lịch sử. Khi mà nhiều bản hiến pháp đã ra đời cách đây hàng trăm năm, quy trình sửa đổi các hiến pháp đó rất phức tạp, nên khó có thể đưa quy định về môi trường vào. Hiến pháp Liên bang Hoa Kỳ là một ví dụ. Nguyên nhân thứ hai, mà được coi là nguyên nhân quan trọng nhất, đó là việc đưa những quy định về môi trường vào hiến pháp là điều không cần thiết. Theo quan điểm này, quyền sống trong môi trường trong lành không phải là quyền cơ bản của con người. Quyền môi trường có thể được suy ra từ các quyền cơ bản sẵn có như quyền sống, quyền được bảo vệ công bằng trước pháp luật và liên quan đến một số quyền khác như quyền tiếp cận công lý, quyền tiếp cận thông tin và quyền tham gia của cộng đồng.
Singapore là một trong những quốc gia thành công nhất thế giới về bảo vệ môi trường. Tuy vậy, Hiến pháp Singapore không có điều nào đề cập đến vấn đề môi trường, mặc dù việc sửa đổi Hiến pháp thường xuyên diễn ra tại quốc đảo này. Từ nhiều ví dụ thực tế khác cho thấy, không có mối quan hệ rõ ràng giữa việc đưa quyền đối với môi trường trong lành vào hiến pháp và thực tiễn bảo vệ môi trường của quốc gia đó.

3. Đa số các quốc gia không quy định quyền môi trường trong hiến pháp

Đa số các quốc gia không có quy định về môi trường trong Hiến pháp đều suy luận rằng, quyền này bắt nguồn từ quyền sống của con người. Nếu con người phải sống trong môi trường không trong lành sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của họ. Điều đó sẽ rút ngắn tuổi thọ trung bình của con người và sống trong môi trường không trong lành đã xâm phạm quyền sống của con người. Do vậy, con người có quyền sống trong môi trường trong lành.
Tại Ấn Độ, trước khi bổ sung các quy định về môi trường vào Hiến pháp, Tòa án Ấn Độ vẫn sử dụng quy định về quyền sống để giải quyết các vấn đề môi trường. Điều 21 Hiến pháp Ấn Độ có ghi: “Không ai bị xâm phạm tự do, tính mạng, sức khỏe và tài sản trừ trường hợp pháp luật cho phép”. Xuất phát từ quy định trên, Tòa án Ấn Độ kết luận: “Không thể tách rời quyền sống và quyền sống trong môi trường trong lành. Việc để người dân sống trong môi trường bị ô nhiễm chính là vi phạm quyền sống của người dân” (giải thích Điều 21). Tại Pakistan, tòa án cũng sử dụng cách lập luận tương tự, xuất phát từ Điều 9 Hiến pháp: “Không ai bị xâm hại tính mạng, sức khoẻ và tài sản”.
Tuy nhiên, do cách lập luận trên không bao quát hết toàn bộ các khía cạnh của quyền sống trong môi trường trong lành, nên sau đó Ấn Độ đã bổ sung Điều 48A và 51A vào Hiến pháp. Điều 48A ghi nhận: “Nhà nước có nghĩa vụ phải bảo vệ và tăng cường chất lượng môi trường, bảo vệ rừng, các sinh vật hoang dã”. Điều 51A quy định về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân Ấn Độ, trong đó có nghĩa vụ bảo vệ và tăng cường môi trường tự nhiên bao gồm rừng, hồ, sông, sinh vật hoang dã, và phải tôn trọng các sinh vật tự nhiên. Khi giải thích Điều 48A, kết hợp với quyền tiếp cận công lý, Tòa án Ấn Độ đã đưa ra kết luận: “Khi cơ quan nhà nước không hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ môi trường, người dân có quyền khởi kiện. Nghĩa vụ bảo vệ môi trường ở đây bao gồm việc bảo vệ môi trường trong từng hoạt động của mình và nghĩa vụ xử lý nghiêm minh, triệt để các cá nhân, tổ chức khác gây ô nhiễm môi trường” (giải thích Điều 41A).
Ngoài việc dẫn giải từ quyền sống, quyền đối với môi trường trong lành còn có thể được suy luận từ quyền được bảo vệ công bằng trước pháp luật của người dân. Tại Tanzania, khi cơ quan nhà nước cấp phép cho một cơ sở xử lý rác thải đặt tại một khu vực làm môi trường xung quanh đó bị ô nhiễm là đã đối xử với người dân trong khu vực không công bằng, khi so sánh với người dân trong khu vực khác. Từ đó suy ra, người dân đã không được bảo vệ công bằng trước pháp luật. Vì vậy, người dân có quyền khởi kiện quyết định cấp phép cho cơ sở xử lý rác thải kia.
Tuy nhiên, lập luận trên không thể thay thế được quy định hiến định về quyền môi trường trong lành. Chẳng hạn, trong trường hợp một cơ sở tư nhân gây ô nhiễm mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền lại làm ngơ, không xử lý, thì lập luận trên không thể áp dụng được. Tại Columbia, nhược điểm này đã được khắc phục khi Hiến pháp đề cập quyền sống trong môi trường trong lành. Từ quy định này, người dân có quyền chủ động khởi kiện cơ quan nhà nước đã không xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường.

4. Quyền môi trường ở Philippine và Hoa Kỳ

Tại Philippine, yếu tố nghĩa vụ bảo vệ môi trường của nhà nước được nhấn mạnh. Trong một vụ việc tại Philippine, một doanh nghiệp khai thác rừng đầu nguồn gây lũ lụt cho người dân. Khi doanh nghiệp bị người dân khởi kiện, doanh nghiệp đã trình ra giấy phép khai thác rừng do cơ quan nhà nước cấp. Lúc này, người dân quay ra khởi kiện cơ quan cấp giấy phép khai thác rừng đó. Mặc dù quyết định cấp giấy phép khai thác rừng không vi phạm các văn bản luật cũng như dưới luật, nhưng chúng đã khiến cho môi trường của người dân bị hủy hoại, tức là vi phạm Hiến pháp. Tòa án căn cứ vào quy định về quyền sống trong môi trường trong lành trong Hiến pháp mà tuyên bố rằng giấy phép đó là vi hiến và cơ quan cấp phép phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người dân.
Tại Hoa Kỳ, Hiến pháp liên bang Hoa Kỳ không có quy định về môi trường, do đó, họ buộc phải suy luận từ các quy định có sẵn. Khi Quốc hội liên bang muốn ban hành đạo luật có điều khoản về bảo vệ môi trường, họ sử dụng quy định về quyền quản lý thương mại của chính quyền liên bang. Lập luận được Tòa án tối cao Hoa Kỳ chấp nhận là: việc bảo vệ môi trường sẽ cần các nguồn lực kinh tế, do đó, sẽ có ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh trong nền kinh tế đất nước. Việc này sẽ gây tác động đến thương mại giữa các bang, vốn là vấn đề mà chính quyền liên bang có quyền quản lý. Khi người dân cần bảo vệ quyền sống trong môi trường trong lành của mình, họ sử dụng quyền sống trong Tuyên ngôn độc lập và quyền được pháp luật bảo vệ công bằng trong Tu chính án thứ 14 của Hiến pháp liên bang.

5. Quyền môi trường trong hiến pháp Việt Nam

Lịch sử bảo vệ môi trường thế giới được ghi nhận bắt đầu từ những năm 1960. Hoà chung vào tinh thần bảo vệ môi trường của thế giới, Hiến pháp 1980 đã bắt đầu ghi nhận các quy định về môi trường. Điều 36, Hiến pháp 1980 quy định: “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống.” Như vậy, ngay tại Hiến pháp 1980, nước ta đã rất coi trọng chính sách bảo vệ môi trường. Trách nhiệm bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như bảo vệ và cải thiện môi trường sống được giao cho toàn bộ các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân.

Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã có những quy định mang tính nguyên tắc về bảo vệ môi trường. Điều 29 của Hiến pháp nước ta quy định:

“Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường”.

Như vậy, Hiến pháp đã quy định nghĩa vụ “bảo vệ môi trường” là một nghĩa vụ pháp lý của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội. Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người, sinh vật và sự phát triển đất nước. Hoạt động bảo vệ môi trường nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân,bảo đảm quyền con người sống trong môi trường trong lành và góp phần phục vụ sự phát triển bền vững của xã hội Việt nam. Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Mọi tổ chức cá nhân có trách nhiệm bảo vệ môi trường,thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường, thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường. Trong Hiến pháp 1992 đã nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường.

Đến Hiến pháp năm 2013, tại Điều 43 có ghi nhận “Mọi người đều có quyền sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”. Cũng như pháp luật quốc tế, quyền môi trường, trong pháp luật Việt Nam, có mối liên hệ mật thiết với các quyền con người cơ bản khác, như: Quyền sống (được quy định tại điều 19 của Hiến pháp 2013), quyền tiếp cận thông tin (Điều 25, Hiến pháp 2013), quyền về sức khỏe (Điều 20, 38; Hiến pháp 2013), quyền an sinh xã hội (Điều 34, Hiến pháp 2013)…

Cụ thể hoá Điều 43 của Hiến pháp 2013, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về: hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường. Các tiêu chuẩn, đánh giá tác động, bảo vệ môi trường trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; Bảo vệ môi trường biển, nước sông và các nguồn nước; Quản lý chất thải, phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường… và các quyền con người liên quan tới tiếp cận thông tin về môi trường - như quyền khiếu nại, tố cáo, bồi thường thiệt hại về môi trường - cũng đã được quy định trong Luật này.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)