Về đặc điểm tâm lý cũng như xu hướng tính cách các chuyên gia thường cho rằng phụ nữ gặp nhiều khó khăn hơn so với nam giới khi hôn nhân đổ vỡ. Cùng với quan điểm là bộ phận yếu thế trong xã hội, trong Luật Hôn nhân và gia đình dành nhiều quy định bảo đảm quyền phụ nữ, trong đó không thể không kể đến chế định ly hôn.

1. Cơ sở pháp lý về quyền phụ nữ trong ly hôn

- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Quyền phụ nữ là gì?

Quyền phụ nữ có thể được hiểu là tập hợp các quyền của con người mà người phụ nữ được hưởng, được tôn trọng và bảo vệ, bảo đảm thực hiện bằng hệ thống các quy định của pháp luật.

Bảo vệ quyền của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình là việc pháp luật ghi nhận quyền của người phụ nữ trong các chế định kết hôn, quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, quan hệ giữa cha, mẹ và con.... đảm ảo các quyền của người phụ nữ được thực hiện đầy đủ, bình đẳng trong thực tế đồng thời ghi nhận hệ thống các biện pháp chế tài nhằm xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền của người phụ nữ.

Việc ghi nhạn các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có ý nghĩa vô cùng, nâng cao địa vị của người phụ nữ trong gia đình cũng như vị trí trong xã hội của người phụ nữ, đảm bảo cho người phụ nữ được hưởng đầy đủ các quyền chính đáng mà pháp luật quốc tế và quốc gia ghi nhận. ĐỒng thời, đây là khung pháp lý và cơ sở để căn cứ vào đó các hành động bảo vệ người phụ nữ, xử lý các hành vi xâm hại, làm ảnh hưởng quyền và nghĩa vụ của người phụ nữ.

Bằng các quy định của luật tạo ra sự bình đẳng, sự ưu tiên cho người phụ nữ, khẳng định địa vị của người phụ nữ trong gia đình, đời sống xã hội, xóa bỏ tư tưởng "trọng nam khinh nữ" đã tồn tại lâu đời, giúp phụ nữ có sự tiếp cận, tìm hiểu các quy định của pháp luật, khẳng định vị thế ngang hàng với nam giới,, tự tin thể hiện bản thân. Bên cạnh đó, thông qua các quy định của pháp luật, Đảng và nhà nước còn xác định những ưu tiên đối với phụ nữ nhằm động viên và phát huy tối đa vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội.

Bên cạnh đó, bảo vệ quyền của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình là cơ sở để ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến quyền của phụ nữ nhằm đảm bảo cho việc thực hiện quyền của phụ nữ trên thực tế đời sống xã hội. Bảo vệ quyền của phụ nữ là một trong các cơ sở góp phần triển khai các chương trình bình đẳng giới, tránh bạo lực trong gia đình, góp phần thúc đẩy xã hội bình đẳng, nam và nữ ngang hàng.

3. Bảo vệ quyền phụ nữ trong chế định ly hôn

3.1. Về quyền yêu cầu ly hôn

Thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, pháp luật hôn nhân và gia đình nước ta đảm bảo quyền tự do ly hôn, Việc ly hôn ảnh hưởng đến lợi ích của các bên. Trên thực tế, khi ly hôn thì người phụ nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn, do đó để bảo vệ quyền của phụ nữ trong hôn nhân thì pháp luật hôn nhân và gia đình đã có những quy định về vấn đề ly hôn. Quyền yêu cầu ly hôn của người phụ nữ được ghi nhận qua Điều 51 Luật Hôn nhân và gia điình năm 2014 quy định định về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, người vợ có quyền được yêu cầu ly hôn trong cả hai trường hợp: Thuận tình ly hôn và  ly hôn do một bên vợ yêu cầu.

Việc ly hôn do một bên vợ yêu cầu được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khi có yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng, Tòa án phải tiến hành xác định tình trạng quan hệ hôn nhân và áp dụng các căn cứ để giải quyết, cụ thể:

- Trường hợp có căn cứ về việc chồng có hành vi bạo lực gia đình. Hanh vi bạo lực gia đình đa số do người chồng thực hiện, ảnh hưởng đến sức khỏe, làm rạn nứt quan hệ trình cảm trong thời kỳ hôn nhân.

- Trường hợp vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Hôn nhân của vợ, chồng là do cả hai xây dựng, vun đắp, nhưng khi một bên không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình đối với người còn lại thì quan hệ hôn nhân sẽ đổ vỡ. Hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là một trong những căn cứ để Tòa án xem xét giải quyết việc ly hôn.

Khi có một trong những căn cứ trên dẫn đến quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng nghiêm trọng (người chống không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc người vợ,...), đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định giải quyết ly hôn. Như vậy, các quy định của luật đã bảo vệ được người phụ nữ, giải thoát cho họ trong cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hai trường hợp trên là công nhận và bảo đảm quyền tự do ly hôn chính đáng của người vợ mà không phụ thuộc vào ý chí của người chồng hay của người khác đảm bảo được quyền bình đẳng của người vợ trong việc thực hiện quyền ly hôn.

Thứ hai, quy định về trường hợp cha mẹ, người thân thích khác trong gia đình có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, cụ thể cha, mẹ người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên chòng, vợ do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời người chồng có hành vi bạo lực gia đình đối với người vợ. Đây là quy định tiến bộ của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có ý nghĩa thiết thực bảo vệ quyền của người phụ nữ, là nhóm yếu thế, phần lớn là nạn nhân của hành vi bạo lực gia đình thì việc quy định cho cha, mẹ, người thân thích khác trong gia đình có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là hợp lý.

Thứ ba, quy định hạn chế về quyền yêu cầu ly hôn của người chồng.

Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng, cụ thể người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Với quy định này, quyền làm mẹ của người vợ được bảo đảm một cách vững chắc hơn. Ghi nhận quy định này chính xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, tạo điều kiện cho người phụ nữ thực hiện tốt thiên chức của mình.

3.2. Về chia tài sản khi ly hôn

Thứ nhất, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ theo nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn

Luật Hôn nhân và gia điình năm 2014 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành đã có những quy định tạo cơ sở pháp lý để giải quyết những tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi ly hôn, nhằm đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đương sự, đặc biệt là người phụ nữ, bởi vì khi ly hôn họ là đối tượng có phần gặp nhiều khó khăn hơn. Theo nguyên tắc chung, tài sản của vợ chồng được chia đôi cho hai người, trên cơ sở của nguyên tắc vợ, chồng có quyền bình đẳng trong việc hưởng các quyền dân sự nói chung và quyền sở hữu tài sản nói riêng, trong trường hợp không có thỏa thuận phân chia tài sản, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chống được chia theo nguyên tắc chia đôi. Quy định này là hoàn toàn hợp lý vì hình thức sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản này. 

Tuy nhiên, để đảm bảo việc phân chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện công bằng, phù hợp với thực tế, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được hướng dẫn tại khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tích 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia.

- Hoàn cảnh gia đình của các bên. Theo đó, nếu khi ly hôn mà người vợ khó khăn thì Tòa án xem xét chia phần tài sản nhiều hơn do với bên kia hoặc được ưu tuên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực té của gia đình và của vợ.

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung được hiểu là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Trường hợp người phụ nữ không ra ngoài làm việc mà chỉ ở nhà nội trợ, chăm sóc con cái tuy không trực tiếp tạo ra thu nhập do đó cần xem xét tới công sức đóng góp của người vợ, điều này khẳng định sự bình đẳng giữa vợ và chồng.

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của vợ, chồng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập. 

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản dẫn đến ly hôn. Cần lưu ý, lỗi ở đây có thể là không chăm lo làm ăn, cố tình tẩu tán tài sản, cờ bạc, rượu chè, có hành vi ngoại tình, bạo lực gia điình mà các lỗi này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến ly hôn. Quy định này thể hiện công bằng hơn trong việc đảm bảo quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ khi ly hôn.

Bên cạnh đó, khi chia tài sản chung của vợ chồng, pháp luật Việt Nam đặt ra yêu cầu bảo vẹ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Đây là quy định thể hiện rõ nét nhất việc bảo vệ quyền của phụ nữ.

Thứ hai, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người bợ trong quan hệ giao dịch với người thứ ba. Theo quy định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn nếu các bên không có thỏa thuận khác.

Thứ ba, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ trong trường hợp sống chung với gia đình. Truyền thống ở Việt Nam, phụ nữ sau khi kết hôn thường sống chung trong gia đình nhà chồng, quy định này nhằm đảm bảo dù sống chung nhưng vẫn phải xác định tài sản phân chia cho người vợ dựa trên công sức đóng góp, tạo lập khối tài sản đó.

Thứ tư, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào sản xuất kinh doanh. Quy định này tạo ra sự bình đẳng cho vợ, chồng nhằm bảo đảm quyền lợi cho các bên, người đang trực tiếp kinh doanh bằng tài sản chung thì ưu tiên nhận tài sản đó để tiếp tục duy trì hoạt động nhưng phải có trách nhiệm thanh toán cho bên còn lại giá trị tài sản tương ứng được nhân.

Thứ năm, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ trong việc phân chia quyền sử dụng đất.

Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì không phân biệt là do vợ hay do người chồng tạo lập ra, khi ly hôn vợ chồng đều được hưởng phần bằng nhau giá trị quyền sử dụng đất. Quy định này bảo vệ quyền sử dụng đất của người vợ trong trường hợp khi ly hôn người chồng tự ý thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất thuộc sở hữu chung này.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Tổng hợp và phân tích)