Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật về quyền sở hữu tài sản, gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

- Bộ luật Dân sự năm 2015

2. Luật sư tư vấn:

Quyền sở hữu tài sản là gì?

Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lí phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ về sở hữu trong xã hội. Các quy phạm pháp luật về sở hữu xác nhận, quy định và bảo vệ các quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.

Với tư cách là một chế định pháp luật, quyền sở hữu chỉ ra đời khi xã hội có sự phân chia giai cấp và có nhà nước. Pháp luật về sở hữu và nhà nước có cùng một nguồn gốc và không thể tồn tại tách rời nhau, do đó nó sẽ mất đi khi không còn nhà nước.

Quyền sở hữu là quyền của duy nhất của chủ sở hữu đối với tài sản; quyền sở hữu là quyền tổng hợp của các quyền năng cụ thế đối với tài sản, đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. 

Theo Điều 158 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 158. Quyền sở hữu

Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.

Như vậy, những chủ thể nào chỉ có được một hoặc hai quyền trên thì sẽ không được công nhận là chủ sở hữu đối với tài sản mà chỉ là chủ thể có quyền khác đối với tài sản theo như quy định của Điều 159 của Bộ luật dân sự 2015 (Quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác. Quyền khác đối với tài sản bao gồm: Quyền đối với bất động sản liền kề; Quyền hưởng dụng; Quyền bề mặt)

Các quyền năng thuộc nội hàm của quyền sở hữu có thể chuyển giao đồng thời cho người khác hoặc chủ sở hữu có thế tách từng quyền năng trên để chuyển giao cho chủ thể khác nhưng chỉ là chuyển giao có thời hạn. Như vậy những người có quyền khác đối với tài sản có phạm vi quyền và thời hạn quyền chỉ có tính tương đối. 

Theo pháp luật của các quốc gia khác thì quyền sở hữu chỉ bao gồm hai quyền năng cụ thể là quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản chứ không bao gồm quyền chiếm hữu. Vì việc chiếm hữu tài sản được pháp luật của các nước này quy định như một tình trạng thực tế đối với tài sản.

Thế nào là quyền khác đối với tài sản?

Bên cạnh quyền sở hữu thì Bộ luật dân sự còn đưa ra khái niệm quyền khác đối với tài sản. 

Tại Điều 159 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: 

Điều 159. Quyền khác đối với tài sản

1. Quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác.

2. Quyền khác đối với tài sản bao gồm:

a) Quyền đối với bất động sản liền kề;

b) Quyền hưởng dụng;

c) Quyền bề mặt.

Theo đó, quyền khác đối với tài sản là quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản hay là quyền đối với tài sản của người khác. Quyền này cũng có nội hàm là ba quyền: Quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt.

Nếu các quyền cụ thể thuộc quyền sở hữu chỉ đồng thời thuộc về một chủ thể là chủ sở hữu hoặc chủ thể khác thuộc trường hợp pháp luật có quy định thì các quyền cụ thể của quyền khác đối với tài sản lại không thể đồng thời thuộc về một người được. Bởi các quyền này được xác lập do pháp luật quy định cho từng chủ thể nếu đủ điều kiện luật định hoặc do chủ sở hữu chuyển giao với những điều kiện nhất định. Những quyền này được thực hiện trên những tài sản ở những trạng thái vật chất khác nhau.

Xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản phải tuân theo nguyên tắc nào?

Điều 160 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về các nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản:

Điều 160. Nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được xác lập, thực hiện trong trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Quyền khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu được chuyển giao, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

3. Chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền được quy định tại Bộ luật này, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác.

Khoản 1 điều luật trên quy định nguyên tắc luật điều chỉnh khi chủ thể xác lập, thực hiện quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản là theo Bộ luật này và các luật khác cỏ liên quan. Có thể nói quy định này đã khẳng định nguyên tắc áp dụng luật được quy định tại Điều 4 của Bộ luật dân sự và cũng là nguyên tắc chung khi các chủ thể thực hiện quyền của mình.

Khoản 1 trên cũng quy định về hiệu lực của quyền khác đối với tài sản trong trường hợp quyền sở hữu được chuyển giao bằng quy định: “Quyên khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu được chuyến giao, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.

Quy định của khoản 2 và khoản 3 Điều 160 trên đề cập đến ranh giới hay giới hạn cho các chủ thể khi thực hiện quyền sở hữu hay thực hiện các quyền khác đối với tài sản.

- Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

- Chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền được quy định tại Bộ luật này, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác.

Quyền sở hữu được xác lập từ thời điểm nào?

Thời điểm xác lập quyền sở hữu được quy định tại Điều 161 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 161. Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

1. Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thực hiện theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; trường hợp luật không có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên; trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là thời điểm tài sản được chuyển giao.

Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản.

2. Trường hợp tài sản chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên có tài sản chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, Thời điểm xác lập quyền sở hữu sẽ theo các thứ tự xác định sau:

- Theo quy định luật đối với các trường cụ thể;

- Nếu không có quy định cụ thể của luật về thời điểm xác lập quyền thì thời điểm này do các chủ thể thỏa thuận;

- Nếu các chủ thể không thỏa thuận thì đó là thời điểm tài sản được chuyển giao. 

Và thời điểm chuyển giao được giải thích là thời điểm chủ thể có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản. Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì có 2 thời điểm thường được lựa chọn để xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu là thời điểm chuyển giao về mặt pháp lý (là thời điểm sang tên chủ sở hữu) hoặc thời điểm chuyển giao về mặt thực tế (là thời điểm trực tiếp nắm giữ tài sản).

Khoản 2 Điều 161 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hoa lợi, lợi tức được xác lập cho ai khi tài sản chưa được chuyển giao, đó là xác lập cho bên có tài sản chuyển giao.

Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu

Điều 237 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về căn cứ chấm dứt quyền sở hữu:

"Quyền sở hữu chấm dứt trong trường hợp sau đây:

1. Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác.

2. Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình.

3. Tài sản đã được tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy.

4. Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu.

5. Tài sản bị trưng mua.

6. Tài sản bị tịch thu.

7. Tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định của Bộ luật này.

8. Trường hợp khác do luật quy định."

Như vậy, trong trường hợp nếu người chủ cũ chuyển giao một tài sản cho một người khác thì quyền sở hữu của người chủ cũ có thể chấm dứt. Cụ thể theo Điều 237 nêu trên, trong các trường hợp sau thì quyền sở hữu sẽ bị coi là chấm dứt:

- Khi chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác: việc chuyển giao được thể hiện qua hợp đồng, hoặc thông qua việc thừa kế thì quyền sở hữu đối với tài sản của người đó chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao.

- Khi chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình: Chủ sở hữu có thể tuyên bố công khai thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó.

- Khi tài sản đã được tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy.

- Khi tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu: Điều 241 BLDS năm 2015 quy định về vấn đề này như sau:

"1. Quyền sở hữu đối với một tài sản chấm dứt khi tài sản đó bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, nếu pháp luật không có quy định khác.

2. Việc xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu không áp dụng đối với tài sản không thuộc diện kê biên theo quy định của pháp luật.

3. Quyền sở hữu đối với tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu chấm dứt tại thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người nhận tài sản đó.

4. Việc xử lý quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai."

- Khi tài sản bị trưng mua: Trường hợp Nhà nước trưng mua tài sản theo quy định của luật thì quyền sở hữu đối với tài sản của chủ sở hữu đó chấm dứt kể từ thời điểm quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật.

- Khi tài sản bị tịch thu: Khi tài sản của chủ sở hữu do phạm tội, vi phạm hành chính mà bị tịch thu, sung quỹ nhà nước thì quyền sở hữu đối với tài sản đó chấm dứt kể từ thời điểm bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác có hiệu lực pháp luật.

- Khi tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định của Bộ luật này.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê