1. Quyền sở hữu chấm dứt trong trường hợp nào?

Pháp luật dân sự không chỉ điều chỉnh các căn cứ xác lập quyền sở hữu mà quy định về các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu được quy định một cách vô cùng chặt chẽ nhằm giữ gìn và bảo vệ tính bền vững của quan hệ sở hữu, phù hợp với nguyên tắc tôn trọng và bất khả xâm phạm của quyền sở hữu. Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu là những sự kiện pháp lý dẫn tới việc chấm dứt quyền sở hữu của chủ sở hữu với một tài sản nhất định.

Theo Điều 237 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 237. Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu

Quyền sở hữu chấm dứt trong trường hợp sau đây:

1. Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác.

2. Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình.

3. Tài sản đã được tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy.

4. Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu.

5. Tài sản bị trưng mua.

6. Tài sản bị tịch thu.

7. Tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định của Bộ luật này.

8. Trường hợp khác do luật quy định.

Như vậy, dựa vào ý chí của chủ sở hữu các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu có thể được phân loại thành các nhóm như sau:

- Quyền sở hữu đối với tài sản chấm dứt theo ý chí của chính chủ sở hữu tài sản đó. Các trường hợp này được phân chia thành:

+ Chủ sở hữu chấm dứt quyền sở hữu của mình đối với tài sản bằng cách chuyển giao tài sản đó cho những người khác. Việc chuyển giao quyền sở hữu ở đây được thực hiện thông qua những giao dịch về chuyển giao tài sản được thực hiện bởi chính chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền. Trình tự chấm dứt quyền sở hữu của bên chuyển giao và xác lập quyền sở hữu cho bên được chuyển giao được điều chỉnh bởi các quy định về giao dịch dân sự, về hợp đồng;

+ Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.

- Quyền sở hữu đối với tài sản chấm dứt ngoài ý chí của chủ sở hữu. Các trường hợp này được phân chia thành ba nhóm như sau:

+ Quyền sở hữu của chủ sở hữu bị cưỡng chế chấm dứt theo ý chí của các chủ thể khác (tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu, tài sản bị trưng mua, tài sản bị tịch thu);

+ Quyền sở hữu của chủ sở hữu bị chấm dứt theo những nguyên nhân tự nhiên, ngoài ý chí của con người (tài sản đã được tiêu dùng hoặc bị tiêu huỷ);

+ Quyền sở hữu của chủ sở hữu bị chấm dứt do tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định của pháp luật (vật đánh rơi, bỏ quên; vật bị chôn dấu, chìm đắm, vùi lấp; gia súc, gia cầm bị thất lạc, ...)

Ngoài ra, quyền sở hữu có thể bị chấm dứt trong những trường hợp khác do pháp luật quy định.

 

2. Chấm dứt quyền sở hữu khi chủ sở hữu chuyển giao tài sản cho người khác.

Chấm dứt quyền sở hữu khi chủ sở hữu chuyển giao tài sản cho người khác là một trong những trường hợp chẩm dứt quyền sở hữu xảy ra theo ý chí của chính chủ sở hữu.

Theo Điều 238 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 238. Chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác

Khi chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật hoặc thông qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu đối với tài sản của người đó chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao.

Như vậy, theo ý chí của mình, chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản cho các chủ thể khác thông qua các hợp đồng mua bán, trao đổi, tăng cho, cho vay, các hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật hiện hành (Ví dụ: Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan, các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp hay quyền đối với giống cây trồng...).

Trong các trường hợp này, việc chấm dứt quyền sở hữu của người chuyển giao (chủ sở hữu cũ) đồng nghĩa với việc xác lập quyền sở hữu cho bên được chuyển giao (chủ sở hữu mới). Riêng đối với việc chuyển giao tài sản thông qua thừa kế thì có thể có sự khác biệt nhất định đối với các trường hợp chuyển giao quyền sở hữu thông qua hợp đồng. Có thể nói, quyền sở hữu trong trường hợp này chấm dứt theo quy định của pháp luật chứ không phải theo ý chí của chủ sở hữu.

 

3. Chấm dứt quyền sở hữu khi chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu.

Xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng ý chí của chủ sở hữu trong việc định đoạt tài sản, pháp luật cho phép chủ sở hữu tự nguyện từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu của mình.

Theo Điều 239 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

Điều 239. Từ bỏ quyền sở hữu

Chủ sở hữu có thể tự chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của mình bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó.

Đối với tài sản mà việc từ bỏ tài sản đó có thể gây hại đến trật tự, an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường thì việc từ bỏ quyền sở hữu phải tuân theo quy định của pháp luật.

Do đó, việc từ chối quyền sở hữu có thể được thể hiện dưới hình thức tuyên bố công khai hoặc thông qua những hành vi cụ thể chứng tỏ rõ ràng ý chí từ chối quyền sở hữu của mình (ví dụ: vứt bỏ đồ vật). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, cho đến trước khi xảy ra sự kiện xác lập quyền sở hữu cho những người tìm, nhặt được tài sản đã bị chủ sở hữu từ bỏ thì quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu cũ chưa chấm dứt. Điều này không chỉ dẫn tới khả năng “lấy lại” đồ vật của chủ sở hữu (với lý do chủ sở hữu chưa mất đi quyền đối với tài sản của mình) mà còn dẫn tới khả năng ràng buộc chủ sở hữu với những nghĩa vụ nhất định. Do vậy, nếu tài sản bị chủ sở hữu từ bỏ có khả năng gây thiệt hại thì chủ sở hữu vẫn phải chịu trách nhiệm. Do vậy, việc từ bỏ tài sản trong những trường hợp tài sản bị từ bỏ có thể gây thiệt hại đến trật tự, an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường thì việc từ bỏ quyền sở hữu phải tuân theo quy định của pháp luật. Ví dụ, việc vứt và xả rác thải phải tuân thủ quy định pháp luật về môi trường và pháp luật có liên quan.

 

4. Chấm dứt quyền sở hữu khi tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác.

Trong nhiều trường hợp, căn xác lập quyền sở hữu đổi với một chủ thể cũng đồng thời là căn cứ chấm dứt quyền sở hữu đối với chủ thể khác. Theo quy định tại Điều 240 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 240. Tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác

Tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc; vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định tại các điều từ Điều 228 đến Điều 233 của Bộ luật này thì quyền sở hữu của những người có tài sản đó chấm dứt.

Khi quyền sở hữu của người chiếm hữu, người được lợi về tài sản đã được xác lập theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này hoặc quy định khác của luật có liên quan thì chấm dứt quyền sở hữu của người có tài sản bị chiếm hữu.

Theo các Điều 228 đến Điều 233 và Điều 236 Bộ luật dân sự 2015, quyền sở hữu có thể được xác lập cho những chủ thể đã tìm ra/nhặt được/bắt được những tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên; giạ súc, gia cầm bị thất lạc; vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên với những điều kiện nhất định được pháp luật quy định.

Quyền sở hữu cũng có thể được xác lập theo thời hiệu cho người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nếu việc chiếm hữu đáp ứng những điều kiện do pháp luật quy định. Trong những trường hợp này, việc xác lập quyền sở hữu cho các chủ sở hữu mới đồng nghĩa với việc chấm dứt quyền sở hữu của chủ sở hữu trước đây đối với các tài sản nêu trên.

 

5. Chấm dứt quyền sở hữu khi tài sản bị xử lí để thực hiện nghĩa vụ.

Tài sản chỉ có thể thực sự phát huy được hiệu quả kinh tế của mình nếu được đưa vào giao dịch dân sự. Kể cả trong trường hợp tài sản được đem ra xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu, tài sản cũng đã phát huy được chức năng kinh tế của mình. Khi tài sản của chủ sở hữu bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chính chủ sở hữu thì quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản đó bị chấm dứt. Thời điểm chấm dứt quyền sở hữu chính là thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người nhận tài sản.

Theo Điều 241 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 241. Xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu

1. Quyền sở hữu đối với một tài sản chấm dứt khi tài sản đó bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, nếu pháp luật không có quy định khác.

2. Việc xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu không áp dụng đối với tài sản không thuộc diện kê biên theo quy định của pháp luật.

3. Quyền sở hữu đối với tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu chấm dứt tại thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người nhận tài sản đó.

4. Việc xử lý quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

Việc xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Việc xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu không áp dụng với tài sản không thuộc diện kê biên theo quy định của pháp luật. Căn cứ quy định tại Điều 87 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 những tài sản không được kê biên bao gồm: lương thực, thuốc men cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình; công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt thông thường cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình; vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm; đồ dùng thờ cúng thông thường...

- Việc xử lý quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Trân trọng./.