1. Quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài ?

Chào luật sư, luật sư cho tôi hỏi: Tôi có quốc tịch Việt Nam, nay tôi muốn thôi quốc tịch Việt nam và nhập quốc tịch nước ngoài thì cho tôi hỏi sau khi tôi nhập quốc tịch nước ngoài rồi thì tôi có quyền được sở hữu nhà ở tại Việt Nam và có được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo Luật Quốc tịch 2008, sửa đổi năm 2014, tại Khoản 3, khoản 4 Điều 3 quy định về người Việt Nam định cư ở nước ngòai như sau:

" 3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

4. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài."

Như vậy, từ quy định trên có thể thấy, người Việt Nam thôi quốc tịch Việt Nam và nhập quốc tịch nước ngòai đồng thời sinh sống tại quốc gia nơi mang quốc tịch, tức người đó là người đã từng có quốc tịch Việt Nam, nay thôi quốc tịch Việt Nam và nhập quốc tịch nước ngoài thì được coi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Do vậy việc sở hữu nhà ở và đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đẩt tại Việt Nam thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở và quyền sử dụng đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Điều 5 Luật Đất đai 2013 quy định về người sử dụng đất như sau:

Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, bao gồm:...

6. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch;

Ngoài ra, Điều 186 Luật Đất đai quy định quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngòai không thuộc đối tượng mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam, cụ thể như sau:

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở thì có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.....

3. Trường hợp tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều này thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng được chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế theo quy định sau đây:....

Đối với quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, tại Điều 7 Luật nhà ở năm 2014 quy định về đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam gồm:

"Điều 7. Đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này".

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 8 như sau:

"Điều 8. Điều kiện được công nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam; đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có đủ điều kiện quy định tại Điều 160 của Luật này.

2. Có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức sau đây:

a) Đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước thì thông qua hình thức đầu tư xây dựng, mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

b) Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản (sau đây gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản); mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật;

c) Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì thông qua các hình thức quy định tại khoản 2 Điều 159 của Luật này".

Như vậy, người Việt Nam định cư ở nước ngòai được sở hữu nhà ở tại Việt Nam khi đáp ứng các điều kiện quy định tại điều 8 nêu trên và được cấp Giấy chứng nhận qquyền sở hữu nhà ở đối với nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình.

"Điều 9. Công nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đủ điều kiện và có nhà ở hợp pháp quy định tại Điều 8 của Luật này thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) đối với nhà ở đó. Nhà ở được cấp Giấy chứng nhận phải là nhà ở có sẵn

2. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho chủ sở hữu nhà ở được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai...."

"Điều 10. Quyền của chủ sở hữu nhà ở và người sử dụng nhà ở

1. Đối với chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các quyền sau đây:

c) Được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình theo quy định của Luật này và pháp luật về đất đai;".

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục bảo lãnh vợ sang Úc thực hiện thế nào ? Thủ tục bảo lãnh sang Mỹ làm việc ?

2. Chính sách nhà ở cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài ?

Dự kiến, Phiên họp thứ Mười bảy, UBTVQH cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở. Việc sửa đổi, bổ sung có ý nghĩa quan trọng, nhằm tiếp tục cụ thể hóa chính sách đối với kiều bào ở nước ngoài, khuyến khích, động viên kiều bào tham gia đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, nghiên cứu Dự án Luật cho thấy một số nội dung cần cân nhắc kỹ.

Dự án Luật sửa đổi quy định theo hướng bổ sung đối tượng người gốc Việt Nam là người có kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu, là người kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước có quyền sở hữu nhà ở (không giới hạn số lượng) tại Việt Nam nhằm bảo đảm sự hài hòa, hợp lý trong vấn đề sở hữu nhà ở so với cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, theo quy định tại Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12 ngày 3.6.2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam được quy định trong Nghị quyết số 19 chỉ là chính sách “thí điểm”. Mặt khác, ngoài việc giống nhau về cách thức quy định diện đối tượng (người có kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu; người kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước), dự án Luật sửa đổi lần này đã quy định những nội dung mới mở rộng hơn so với Nghị quyết của QH (trong Nghị quyết cũ số 19/2008/NQ-QH12, thời hạn được sở hữu nhà ở giới hạn tối đa là 50 năm; tại một thời điểm, cá nhân nước ngoài được sở hữu một căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại; Tổ chức, cá nhân nước ngoài để có thể là chủ sở hữu nhà ở tại Việt Nam còn phải tuân thủ những điều kiện khác chặt chẽ hơn về quyền, nghĩa vụ, điều kiện được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam). Bên cạnh đó, về mặt hiệu lực thời gian, Nghị quyết của QH được áp dụng thí điểm trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày có hiệu lực thi hành (1.1.2009).

Nhìn từ khía cạnh này, việc sớm luật hóa một nội dung từ chính sách mang tính thí điểm như đã nêu trên trong việc sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở lần này, phải gắn với yêu cầu tổng kết kết quả thực hiện Nghị quyết của QH (Điều 12 Nghị quyết quy định Chính phủ báo cáo QH kết quả thực hiện Nghị quyết khi kết thúc thời hạn thực hiện thí điểm). Trong khi đó, tính từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực (1.1.2009) cho đến thời điểm hiện nay thì vẫn còn quá sớm để đề cập đến tổng kết việc thực hiện Nghị quyết. Vì những lý do trên, việc dựa theo quy định thí điểm trong Nghị quyết này để luật hóa như quy định trong dự án Luật sửa đổi cần được cân nhắc kỹ. Điều đáng lưu ý là, nếu không quy định các đối tượng này tại điểm b khoản 1 Điều 126 của dự thảo Luật thì cũng chỉ là việc họ không được quyền sở hữu nhà ở với số lượng không hạn chế tại Việt Nam. Trong trường hợp này, họ có thể vẫn được quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 126 dự thảo Luật. Việc giải quyết theo hướng nêu trên cũng là lộ trình, bước đi thích hợp về mặt chính sách trong vấn đề này.

Hoàn thiện chính sách nhà ở cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: - 1900.6162

Một vấn đề khác cần được quan tâm xem xét, đó là việc tiếp tục nghiên cứu và rà soát thêm những nội dung có liên quan giữa Nghị quyết số 19 của QH và nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Luật để bảo đảm sự chặt chẽ, nhất quán về mặt chính sách. Chẳng hạn, về đối tượng là người gốc Việt Nam quy định tại Điều 126 của dự thảo Luật, cần nghiên cứu bổ sung quy định loại trừ những người thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam ra khỏi phạm vi đối tượng có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Liên quan đến vấn đề này, tại khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 19 đã quy định cá nhân nước ngoài nếu thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam thì không có quyền được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Hiện nay, chính sách đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quy định trong Điều 75 Hiến pháp cũ năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung) và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác, như Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (Điều 7), Luật đất đai cũ năm 2003 (Điều 121), Luật nhà ở cũ năm 2005 (Điều 126)… Đối chiếu những nội dung được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề chính sách đối với kiều bào ở nước ngoài và chủ trương của Đảng hiện nay cho thấy, còn rất nhiều nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu thể chế hóa, nhằm phúc đáp yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, Nhà nước đã sớm ban hành Luật Bảo vệ quyền và lợi ích của Hoa kiều và các thành viên của gia đình họ khi trở về nước. Theo đó, một nguyên tắc quan trọng được quy định tại Điều 3 của Luật này là Hoa kiều và các thành viên gia đình họ khi trở về được hưởng các quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đồng thời có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Vấn đề này, cũng cần được quan tâm nghiên cứu để vận dụng phù hợp.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Điều kiện bảo lãnh sang Pháp hiện nay. ? Điều kiện được bảo lãnh sang Nhật là gì ?

3. Quy định về người định cư nước ngoài muốn mua nhà ở Việt Nam ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền mua, sở hữu nhà tại Việt Nam hay không? thủ tục thế nào?
(Thanh Thùy, Đan Mạch)

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai qua điện thoại Gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 điều 3 Luật quốc tịch năm 2008:

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

Như vậy người Việt Nam định cư ở nước ngoài gồm 2 đối tượng: là công dân Việt Nam (có quốc tịch Việt Nam) hoặc người có gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

Vì vậy thực tế hiện nay chị còn quốc tịch Việt Nam (công dân Việt Nam) hay chị thôi quốc tịch Việt Nam và nhập quốc tịch Áo (người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài) thì theo quy định trên chị vẫn được coi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Do vậy, việc mua, sở hữu nhà tại Việt Nam của chị sẽ được áp dụng theo chính sách đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Cụ thể tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nhà ởLuật đất đai quy định về quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài như sau:

“1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:

a) Người có quốc tịch Việt Nam;

b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.

2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.”

Như vậy chị muốn mua, sở hữu nhà tại Việt Nam chị phải đáp ứng được một trong các điều kiện nêu trên.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục bảo lãnh sang Đức làm việc ? Thủ tục bảo lãnh vợ qua Đức cần giấy tờ gì ?

4. Tư vấn người Việt nam định cư nước ngoài nhờ mua hộ nhà tại Việt Nam ?

Thưa luật sư! Hiện nay em gái của tôi định cư ở nước ngoài mua nhà ở Việt Nam, muốn nhờ vợ chồng tôi đứng tên chủ quyền, và tôi muốn làm hộ khẩu tại địa chỉ đó để tiết kiệm được chi phí điện nước/số người. Nhưng tôi không thể đứng chủ hộ khẩu được vì tôi đang thường trú tại địa chỉ nhà khác do ba tôi làm chủ hộ (ba mẹ tôi cũng đang định cư tại nước ngoài).
Như vậy tôi có thể để chồng tôi đứng chủ hộ khẩu được không? Để đảm bảo được tài sản đó là của em tôi, vợ chồng tôi phải làm cách nào để tránh trường hợp tranh chấp sau này. Nếu phiền phức quá thì có thể không làm hộ khẩu tại nhà của em tôi được không ?
Mong hồi âm của luật sư ! Xin cám ơn.

Tư vấn người Việt nam định cư nước ngoài nhờ mua hộ nhà tại Việt Nam?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

- Hiện tại pháp luật không ngăn cấm việc vợ hay chồng là người được quyền sở hữu nhà, hơn nữa, Luật Cư trú số 81/2006/QH11 của Quốc hội (Luật cư trú sửa đổi, bổ sung số 36/2013/QH13 của Quốc hội) quy định:

"Điều 3. Quyền tự do cư trú của công dân

Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công dân có đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, tạm trú".

Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Do vậy, khi bạn đứng tên sở hữu và thường trú ở ngôi nhà do bố mẹ bạn làm chủ thì chồng bạn hoàn toàn có thể đứng tên chủ hộ khẩu ở căn nhà mua giúp em bạn (vợ chồng có thể cư trú ở hai nơi khác nhau). Để đảm bảo nhằm không có tranh chấp xảy ra thì bạn cần giữ lại những chứng cứ chứng minh em bạn chuyển tiền về giúp bạn mua nhà, có giấy tờ chứng minh chồng bạn chỉ là người đứng tên sở hữu. Nhưng hiện tại pháp luật Việt Nam cho phép người Việt định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu nhà nên tốt nhất vẫn để em bạn đứng tên sở hữu nhà đó.

>> Căn cứ Điều 7 Luật nhà ở số 65/2014/QH13 của Quốc hội quy định về Đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam như sau:

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này.

Điều 186 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định về Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam:

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở thì có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này;
b) Chuyển quyền sử dụng đất ở khi bán, tặng cho, để thừa kế, đổi nhà ở cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam để ở; tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở cho Nhà nước, cộng đồng dân cư, tặng cho nhà tình nghĩa theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Luật này. Trường hợp tặng cho, để thừa kế cho đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở;
c) Thế chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam;
d) Cho thuê, ủy quyền quản lý nhà ở trong thời gian không sử dụng.

Do vậy, khi chồng bạn đứng tên sở hữu nhà sẽ có tất cả các quyền như quyền sử dụng, chiếm hữu, định đoạt nên tốt nhất để tránh tranh chấp xảy ra thì em bạn nên đứng tên sở hữu nhà và bạn hoặc chồng bạn sẽ được ủy quyền quản lý nhà.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bảo lãnh người thân qua nước ngoài được không ? Điều kiện được bỏa lãnh qua Anh, Nhật, Mỹ là gì ?

5. Thời hạn sở hữu bất động sản đối với người Việt Nam định cư tại nước ngoài ?

Luật Minh Khuê tư vấn về thời hạn sở hữu bất động sản đối với người Việt Nam định cư tại nước ngoài và những vấn đề pháp lý liên quan:

Trả lời:

Hình thức sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người việt nam định cư ở nước ngoài được quy định như sau:

" Điều 8. Điều kiện được công nhận quyền sở hữu nhà ở (Luật nhà ở 2014 )

2. Có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức sau đây:

b) Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản (sau đây gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản); mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật;"

Hình thức sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài được quy định như sau:

" Điều 159. Đối tượng được sở hữu nhà ở và hình thức sở hữu nhà ở tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài

1. Đối tượng tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam bao gồm:

a) Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;

b) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức nước ngoài);

c) Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua các hình thức sau đây:

a) Đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;

b) Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ."

Theo đó đối với cá nhân người nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam thì được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo hình thức sau: Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.

Thời hạn sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài được quy định như sau:

" Điều 161. Quyền của chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 159 của Luật này có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam nhưng phải tuân thủ các quy định sau đây:

c) Đối với cá nhân nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không quá 50 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận và có thể được gia hạn thêm theo quy định của Chính phủ nếu có nhu cầu; thời hạn sở hữu nhà ở phải được ghi rõ trong Giấy chứng nhận.

Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam;"

Theo đó thời hạn sở hữu nhà ở tối đa của người nước ngoài tại Việt Nam tối đa là 50 năm, tuy nhiên khi hết thời hạn này mình có thể làm thủ tục gia hạn được theo quy định tại điều 77 Nghị định 99/2015/NĐ-CP như sau:

" Điều 77. Gia hạn thời hạn sở hữu nhà ở tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài

1. Trường hợp cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở theo quy định tại Điểm c Khỏan 2 Điều 161 của Luật Nhà ở thì việc gia hạn thời hạn sở hữu nhà ở được quy định như sau:

a) Trước khi hết hạn sở hữu nhà ở 03 tháng, nếu chủ sở hữu có nhu cầu gia hạn thêm thì phải có đơn ghi rõ thời hạn đề nghị gia hạn thêm kèm theo bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận đối với nhà ở và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có nhà ở đó xem xét, giải quyết;

b) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị của chủ sở hữu, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét và có văn bản đồng ý gia hạn một lần thời hạn sở hữu nhà ở theo đề nghị của chủ sở hữu nhưng tối đa không quá 50 năm, kể từ khi hết hạn sở hữu nhà ở lần đầu ghi trên Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này;

c) Căn cứ văn bản đồng ý gia hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm ghi gia hạn trên Giấy chứng nhận; cơ quan cấp Giấy chứng nhận phải sao một bản Giấy chứng nhận và chuyển cho Sở Xây dựng để theo dõi. "

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi là người Việt Nam định cư tại nước ngoài. Hiện không còn quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên vẫn còn giấy tờ chứng minh nguồn gốc Việt. Hiện tôi có ý định mua 02 căn hộ chung cư tại Việt Nam. Xin hỏi với điều kiện của tôi có được sở hữu bất động sản với thời hạn lâu dài không? và cần những điều kiện gì?

=> Trường hợp này của bạn thì được xác định là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, theo đó bạn có thể sở hữu nhà ở chung cư tại Việt Nam được. Thời hạn sở hữu thì hiện tại theo quy định của Luật nhà ở năm 2014 thì chỉ giới hạn thời hạn sở hữu nhà ở đối với cá nhân người nước ngoài là 50 năm, còn đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì không có hạn chế.

Thưa luật sư, xin hỏi: Hiện mình có mua một căn hộ chung cư mới kí hợp đồng cách đây 1 tháng, tiến độ giờ mới làm xong móng. Nhưng mình có việc cần nhà để ở gấp mà tới 2017 dự án mới giao nhà, nên mình muốn bán đi mua căn hộ khác đã xây xong. Nhưng bên chủ đầu tư lại quy định là sau khi kí kết hợp đồng 8 tháng thì mới được sang tên chuyển nhượng Bạn cho mình hỏi giờ mình muốn bán cho người khác thì có cách nào bán được không? tại vì 2 bên không quen biết, chưa đủ tin tưởng mà khoản tiền lại lớn nên 2 bên chưa thỏa hiệp được cảm ơn bạn

=> Quyền chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai được quy định trong Luật kinh doanh bất động sản 2014 như sau:

" Điều 59. Chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai

1. Bên mua, bên thuê mua có quyền chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai khi hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên mua, bên thuê mua chưa được nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải được lập thành văn bản, có xác nhận của chủ đầu tư vào văn bản chuyển nhượng.

2. Bên nhận chuyển nhượng hợp đồng được tiếp tục thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bên mua, bên thuê mua nhà ở với chủ đầu tư. Chủ đầu tư có trách nhiệm tạo điều kiện cho các bên trong việc chuyển nhượng hợp đồng và không được thu bất kỳ khoản chi phí nào liên quan đến việc chuyển nhượng hợp đồng.

3. Bên nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở cuối cùng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

4. Việc chuyển nhượng hợp đồng quy định tại Điều này không áp dụng đối với hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở xã hội.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Theo đó theo quy định của pháp luật thì không có quy định về thời hạn sau khi ký kết hợp đồng là bao lâu thì bạn mới được chuyển nhượng sang cho người khác. Do đó nếu như trong hợp đồng chuyển nhượng giữa bạn và chủ đầu tư mà không có thỏa thuận về vấn đề này thì bạn có thể chuyển nhượng được.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục bảo lãnh người nước ngoài về Việt Nam ? Thủ tục bảo lãnh cho con sang Mỹ ?