1. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con

1.1 Quyền và nghĩa vụ nhân thân

- Cha mẹ có quyền đại diện cho con theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đây là quyền nhân thân của cha mẹ đối với con, đặc biệt là con chưa thành niên. Chỉ khi người con chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha mẹ hoặc cả cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ thì khi đó người con chưa thành niên mới cần sự giám hộ của người khác, và khi đó người giám hộ mới có thể đại diện cho người con chưa thành niên khi đáp ứng các điều kiện nhất định. Quyền nhân thân này đặt ra chủ yếu là nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người con chưa thành niên, sau đó là đảm bảo quyền của cha mẹ trong mối quan hệ với các chủ thể khác có liên quan. Đối với con đã thành niên mà bị mất năng lực hành vi dân sự thì cha mẹ chỉ đại diện cho người con đó khi cha mẹ với tư cách là người giám hộ. Trong trường hợp cha mẹ đã ly hôn vẫn có đầy đủ quyền này đối với con cho dù người con đó chỉ do một bên trực tiếp nuôi dưỡng hoặc do người khác nuôi dưỡng.

- Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giảo dục con:

Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình tốt nhất cả về thể chất và tinh thần. Cha mẹ phải định hướng cho con về lựa chọn nghề nghiệp... (Điều 71,72 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

- Con có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ

Pháp luật quy định mối quan hệ giữa cha mẹ và con trên cơ sở hoàn toàn bình đẳng và dân chủ, thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, mang đậm nét truyền thống của dân tộc Việt Nam. Con cái có nghĩa vụ lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ thể hiện tôn ti trật tự trong gia đình Việt Nam. Bên cạnh đó pháp luật cũng ghi nhận quyền tự quyết định của người con, không hoàn toàn phụ thuộc vào những ý kiến, quan điểm của cha mẹ (Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Quyền và nghĩa vụ chăm sóc và nuôi dưỡng cha mẹ là quyền bình đẳng đối với các con, không có sự phân biệt con trai, con gái, con trong giá thú, con ngoài giá thú. Ngược lại, quyền và nghĩa vụ chăm sóc và nuôi dưỡng con là bình đẳng giữa cha mẹ. Mọi hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, ngược đãi, hành hạ cha mẹ sẽ bị xử lý theo pháp luật tùy vào mức độ vi phạm.

1.2 Quyền và nghĩa vụ tài sản

- Quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng giữa cha mẹ và con

>> Xem thêm:  Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện nuôi con nuôi ?

Quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là quyền nhân thân gắn liền với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác. Trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con, với tư cách là con chưa thành niên, khi cha mẹ ly hôn, khi xác định được cha mẹ cho mình thì người con chưa thành niên đương nhiên được nuôi dưỡng, cấp dưỡng mà không kèm theo bất kỳ điều kiện nào. Nếu người cha, người mẹ có nghĩa vụ mà trốn tránh thực hiện nghĩa vụ đó thì người con chưa thành niên sẽ được bảo vệ quyền được nuôi dưỡng, cấp dưỡng của mình bằng nhiều phương thức khác nhau theo quy định của pháp luật.

Đối với người đã thành niên với tư cách là con hoặc với tư cách là cha mẹ chỉ được nuôi dưỡng, cấp dưỡng khi đáp ứng được những điều kiện nhất định, đó là không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra

Theo quy định của Điều 399 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cha mẹ bồi thường thiệt hại cho con như sau: Đối với con chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại: Nếu người con đó không trong thời gian học tại trường học quản lý hoặc trong thời gian trường học quản lý nhưng trường học không có lỗi trong việc quản lý thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, nếu cha mẹ không đủ tài sản để bồi thường mà con chưa thành niên có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu. Trong'trường hợp vợ, chồng đã ly hôn mà người con gây thiệt hại thì vẫn xác định đây là trách nhiệm chung của vợ chồng với tư cách là cha mẹ của người con đã gây thiệt hại.

Đối với con chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì trước tiên người con đó phải bồi thường bằng tài sản riêng của minh, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

Đối với con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại, nếu không trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý hoặc trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý nhung những cơ sở này không có lỗi trong việc quản lý thì người giám hộ sẽ dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình. Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Trong trường hợp vợ, chồng với tư cách là cha mẹ và là người giám hộ cho con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà gây thiệt hại thì đương nhiên cha mẹ phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho con do cha mẹ có lỗi trong việc quản lý người con đó.

- Cha mẹ có quyền quản lý và định đoạt tài sản của cơ

Điều 75,76,77 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận một số quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự như sau:

- Ghi nhận quyền có tài sản riêng của người con.

- Người con chưa thành niên được quyền quản lý tài sản riêng của mình hoặc nhờ cha mẹ quản lý.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xác nhận quan hệ nhân thân mới nhất năm 2021 và Cách bảo vệ quyền nhân thân

- Cha mẹ là người quản lý tài sản của con chưa thành niên dưới 15 tuổi hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp người tặng cho con tài sản, người để lại di chúc cho con tài sản đã chỉ định người khác quản lý tài sản cho người con đó hoặc cha mẹ bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc con được người khác giám hộ.

- Cha mẹ định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên dưới 15 tuổi hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự phải vì lợi ích của người con đó, nếu con từ 9 tuổi trở lên có tính đến nguyện vọng của người con đó.

- Người con chưa thành niên có quyền định đoạt tài sản riêng của mình trừ trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ.

- Người con chưa thành niên nếu có thu nhập có nghĩa vụ chăm lo và đóng góp vào nhu cầu đời sống chung của gia đình nếu sống chung với cha mẹ.

- Cha mẹ và con cỏ quyền thừa kế tài sản của nhau:

- Cha mẹ và con là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nhau.

- Cha mẹ được hưởng tài sản của con không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.

- Con chưa thành niên, hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự được hưởng tài sản của cha mẹ không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.

1.3 Hạn chế quyền của cha, mẹ đối yới con chưa thành niên

Về căn cứ: Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên khi: Cha, mẹ bị kết án về một trong các tội xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con; cha, mẹ có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con; cha, mẹ phá tán tài sản của còn; cha, mẹ có lối sống đồi truy hoặc xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, đạo đức xã hội (Điều 85,86,87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục cha nhận con ? Thủ tục cha nhận con khi chưa có đăng ký kết hôn như thế nào ?

Về phạm vi: Tùy từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Cần xác định khi cha mẹ vi phạm quyền đôi với người con nào thì sẽ hạn chế quyền đối với người con đó.

Về quyền yêu cầu: Những người sau đây có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên: Cha, mẹ, người giám hộ; Người thân thích; Hội Liên hiệp phụ nữ; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em.

Về hậu quả pháp lý: Nếu một bên cha hoặc mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người còn lại thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, đại diện theo pháp luật cho con. Người bị hạn chế vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng con nhưng không được trực tiếp chăm sóc, giáo dục con. Nếu cả cha mẹ đều bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì cha mẹ vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng con nhưng người giám hộ cho con sẽ là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục cọn và quản lý tài sản cho con.

2. Quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên khác của gia đình

2.1 Quyền và nghĩa vụ giữa anh, chị, em

- Anh, chị, em có quyền và nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Anh, chị, em thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cả khi còn cha mẹ và khi không còn cha mẹ, cả khi sống chung với nhau cũng như khi không sống chung với nhau.

- Anh, chị, em có quyền và nghĩa vụ đại diện theo pháp luật của nhau với tư cách là người giám hộ.

- Nghĩa vụ nuôi dưỡng: Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc tuy còn cha mẹ nhưng cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì anh, chị, em có nghĩa vụ và quyền nuôi dưỡng nhau khi một trong số họ là người chưa thành niên, người đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

- Quyền thừa kế: Nếu người chết để lại di chúc cho anh, chị, em của họ được thừa kế thì anh, chị, em được thừa ke theo di chúc. Trong trường hợp thừa kế theo pháp luật thì anh ruột, chị ruột, em ruột thuộc hàng thừa kể thứ hai của người chết.

>> Xem thêm:  Cha không nhận con thì mẹ có quyền kiện hay không ? Không nhận con có phải cấp dưỡng tiền không ?

2.2 Quan hệ giữa ông, bà và cháu

- Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không còn cha mẹ hoặc anh, chị, em để nuôi dưỡng hoặc tuy còn nhưng những người này không có khả năng nuôi dưỡng cháu thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.

- Cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại.

- Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng giữa ông bà và cháu:

+ Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng cho cháu khi cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng ỉao động và không có tài sản để tự nuôi minh trong trường hợp cháu không có những người khác để nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng.

+ Cháu có nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại khi ông, bà không có những người khác để nuôi dưỡng, cấp dưỡng.

- Quyền thừa kế tài sản giữa ông bà và cháu: Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu nội, cháu ngoại của người chết là hàng thừa kể thứ hai (Điều 651).

2.3 Quan hệ giữa cô, dì, chú, bác, cậu ruột và cháu

Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không còn những người khác nuôi dưỡng thì cô, dì, chú, bác, cậu ruột có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu. Ngược lại, cháu ruột có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng cô, dì, chú, bác, cậu ruột khi họ cần được nuôi dưỡng mà không có con, anh, chị, em hoặc tuy có nhưng những người này không có khả năng nuôi dưỡng cô, dì, chú, bác, cậu.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến pháp luật hôn nhân gia đình về mối quan hệ giữa cha mẹ và chon, các thành viên trong gia đình, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền, thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con mới nhất ? Hướng dẫn thủ tục truy nhận cha con ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Giải đáp về ly hôn, nuôi con và phân chia tài sản khi ly hôn