1. Lãi suất quá hạn là gì?

Hiện nay không có quy định nào giải thích cụ thể "lãi quá hạn" là gì. Tuy nhiên căn cứ quy định tại điểm b khoản 5 Điều 446 Bộ luật dân sự năm 2015 có thể hiểu lãi quá hạn là khoản tiền lãi phát sinh trên khoản nợ gốc quá hạn chưa trả tương ứng với thời gian chậm trả (thời gian quá hạn), mà người vay phải trả cho bên cho vay tính đến thời điểm trả nợ.

Lãi suất quá hạn là tỷ lệ phần trăm nhất định sinh ra từ giao dịch cho vay giữa các bên khi bên vay chưa trả được nợ cho bên cho vay. Cụ thể, lãi suất sẽ được tính theo tỷ lệ phần trăm nhân với số tiền gốc chưa trả trong thời gian quá hạn mà chưa trả.

2. Bản án là gì?

Bản án là sản phẩm thể hiện kết quả toàn bộ hoạt động tố tụng của Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi tuyên án.

Soạn thảo bản án là công việc thường xuyên của Thẩm phán; chất lượng bản án phụ thuộc vào trình độ, trách nhiệm, bản lĩnh và kỹ năng nghiệp vụ của Thẩm phán và Hội đồng xét xử.

Để bảo đảm chất lượng của bản án, trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng, Tòa án nhân dân Tối cao đã có một số văn bản hướng dẫn việc soạn thảo bản án và mẫu các bản án, cụ thể: Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP đối với tố tụng dân sự, Nghị quyết 02/2017/NQ-HĐTP đối với tố tụng hành chính, Nghị quyết 05/2017/NQ-HĐTP đối với tố tụng hình sự.

 “Bản án là văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện các thông tin về nội dung vụ án, pháp luật áp dụng, kết luận và quyết định của Tòa án về các vấn đề cần giải quyết trong một vụ án cụ thể và phải được thi hành nghiêm chỉnh khi có hiệu lực theo quy định của pháp luật”.

3. Quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án

 Tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn “áp dụng đúng và thống nhất quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm” quy định:

a) Khi giải quyết vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án thì Tòa án phải quyết định trong bản án hoặc quyết định (Phần quyết định) như sau:

- Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 (trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ) của Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định lãi suất vay do các bên thỏa thuận: Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực).

- Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 (Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền. (1) Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. (2) Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này), Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

b) “Mức lãi suất hai bên thỏa thuận” hướng dẫn nêu trên là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.

2. Mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật cũng được Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản; lãi suất trung bình trên thị trường; quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án. Hợp đồng vay tài sản hướng dẫn trong Nghị quyết này bao gồm hợp đồng cho vay tài sản là tiền giữa tổ chức tín dụng với khách hàng (sau đây gọi là hợp đồng tín dụng) và hợp đồng vay tài sản là tiền giữa cá nhân, pháp nhân không phải là tổ chức tín dụng với nhau (sau đây gọi là hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng).

3. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2019. Đối với những vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực nhưng kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Nghị quyết này để giải quyết. Đối với những vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý giải quyết và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì không áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa án bị kháng nghị theo căn cứ khác.

4. Về lãi suất trong Hợp đồng đồng tín dụng

Trong vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng, nội dung thỏa thuận về lãi suất là rất quan trọng, việc xác định đúng lãi suất điều chỉnh sẽ là căn cứ để bên vay vốn và bên thế chấp tài sản hoặc bên bảo lãnh tài sản phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Những thỏa thuận cụ thể về lãi suất được các bên ghi nhận trong Hợp đồng tín dụng hoặc trong các khế ước nhận nợ là cơ sở để xác định thỏa thuận đó có phù hợp với quy định pháp luật không và là căn cứ để giải quyết các yêu cầu, đồng thời xác định nghĩa vụ của các đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Thực tế xét xử các vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng trong thời gian gần đây, tác giả thấy rằng Tòa án và Viện kiểm sát đôi khi chưa chú trọng đến cách tính lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn; thiếu kiểm tra việc có hay không có thỏa thuận điều chỉnh lãi suất; không đối chiếu kiểm tra số liệu về lãi suất. Cấp sơ thẩm thường chấp nhận số liệu tính lãi do Ngân hàng cung cấp, dẫn đến việc tại cấp phúc thẩm, những vi phạm này trở thành một trong những nguyên nhân án sửa, hủy án.

Thấy rằng, quá trình nghiên cứu yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập hay yêu cầu phản tố liên quan đến lãi suất, mức lãi suất áp dụng, việc điều chỉnh lãi suất, cần được xem xét toàn diện trên cơ sở những thỏa thuận cụ thể, và thỏa thuận này phải phù hợp với quy định pháp luật được quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Quá trình giải quyết loại án này, bản thân tôi nhận thấy người nghiên cứu hồ sơ cũng như Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cần lưu ý những vấn đề sau:

Trường hợp tại phiên tòa; qua giải thích, các đương sự không có ý kiến xem xét về lãi suất thì cần tôn trọng; trường hợp có đương sự đề nghị xem xét về lãi suất, người nghiên cứu hồ sơ cần thu thập các tài liệu về cách tính lãi của Ngân hàng, đối chiếu các văn bản Luật về lãi suất để đưa ra đề xuất giải quyết phù hợp. Căn cứ quy định của Ngân hàng Nhà nước, căn cứ nội dung thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ về lãi suất cho vay mà Ngân hàng cấp cho người vay, người nghiên cứu có thể xác định mức lãi suất, mức điều chỉnh lãi suất có phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước hay không? Trường hợp thấy lãi suất thỏa thuận cao hơn quy định, cần yêu cầu Ngân hàng tính lại trên cơ sở quy định của các Quyết định, Thông tư do Ngân hàng Nhà nước ban hành.

5. Vi phạm về lãi suất, điều chỉnh lãi suất trong tranh chấp Hợp đồng tín dụng tại Tòa án sơ thẩm

Qua xét xử thực tế, bản thân tôi nhận thấy vi phạm điển hình được thể hiện như sau:

– Tòa án không thu thập tài liệu về lãi suất hoặc không đánh giá tài liệu về lãi suất, chấp nhận yêu cầu số liệu tính lãi Ngân hàng cung cấp.

Khi nghiên cứu tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và người vay thấy tại Hợp đồng tín dụng hai bên đã thỏa thuận về lãi suất khi giải ngân; lãi suất quá hạn và lãi suất sẽ được điều chỉnh thời hạn cụ thể. Tuy nhiên, khi khởi kiện, nguyên đơn chỉ cung cấp duy nhất 1 bảng chung về lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm; không có tài liệu nào khác giải trình việc tính lãi. Tòa án không yêu cầu Ngân hàng cung cấp tài liệu cụ thể về bảng tính lãi suất trong hạn và quá hạn. Vì vậy, không có căn cứ để xác định số tiền nợ lãi (trong hạn và quá hạn) Viện kiểm sát phải đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm tài liệu, chứng cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

– Tòa án có yêu cầu Ngân hàng cung cấp bảng tính lãi của Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết nhưng không đối chiếu thỏa thuận điều chỉnh lãi và cách tính lãi điều chỉnh của Ngân hàng.

– Tòa án đã yêu cầu Ngân hàng cung cấp bảng tính lãi cụ thể, nhưng Ngân hàng cung cấp không đầy đủ, không thể hiện rõ quá trình điều chỉnh lãi và cách áp dụng lãi suất cụ thể. Đối với những trường hợp tương tự, người nghiên cứu hồ sơ phải xác định rõ những vấn đề sau:

+ Giữa Ngân hàng và người vay đã giao kết Hợp đồng tín dụng, khi người vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì phải có trách nhiệm trả nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn như đã thỏa thuận;

 + Khi tranh chấp xảy ra, các bên yêu cầu Tòa án giải quyết thì phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ hoặc yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ theo quy định tại Chương VII Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Về nguyên tắc, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ việc dân sự (khoản 1 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

Trong trường hợp này, nếu Ngân hàng không cung cấp bảng tính lãi, không cung cấp các quyết định áp dụng lãi suất trong hệ thống Ngân hàng…, Tòa án không thể có cơ sở xác định tính chính xác số liệu lãi trong hạn và lãi quá hạn có phù hợp với quy định pháp luật không. Tòa án có quyền tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về nợ gốc, xác định rõ trong bản án do Ngân hàng không cung cấp chứng cứ nên dành cho Ngân hàng quyền khởi kiện vụ án khác về lãi suất.

Các dạng vi phạm cơ bản được nêu ở phần trên là những sai sót mang tính phổ biến khi giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm. Một số vụ án khi xét xử sơ thẩm, tại phiên tòa – sau khi được Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên giải thích và hướng dẫn về lãi suất theo quy định, nguyên đơn đã có điều chỉnh lại lãi suất cho phù hợp với quy định pháp luật hoặc rút yêu cầu đối với nội dung tính lãi suất.

Việc nghiên cứu và xem xét toàn diện những vấn đề liên quan đến lãi suất không chỉ có giá trị trong việc áp dụng Luật chuyên ngành được thống nhất, đúng luật định mà còn có ý nghĩa đảm bảo tính chính xác làm cơ sở tính toán nghĩa vụ khi phát mại tài sản thế chấp. Bên cạnh đó, còn là cơ sở để Cơ quan pháp luật tạo điều kiện cho các đương sự có thể đưa ra được các phương án giải quyết tranh chấp có lợi cho các bên.