1. Giới thiệu tác giả

Sách Bảo lưu điều ước quốc tế khía cạnh pháp luật và thực tiễn do TS Nguyễn Thị Kim Ngân làm chủ biên.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Bảo lưu điều ước quốc tế khía cạnh pháp luật và thực tiễn – TS Nguyễn Thị Kim Ngân

Sách Bảo lưu điều ước quốc tế khía cạnh pháp luật và thực tiễn – TS Nguyễn Thị Kim Ngân (chủ biên)

Sách chuyên khảo

Nhà xuất bản lao động

Xuất bản năm 2018

3. Tổng quan nội dung sách 

Bảo lưu điều ước quốc tế là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với quốc gia khi tham gia điều ước quốc tế, đây được coi là giải pháp vừa đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế vừa đảm bảo quyền, lợi ích quốc gia.

Trong xu thế toàn cầu hóa, điều ước quốc tế có một vai trò quan trọng ngày càng quan trọng bởi nó không chỉ là nguồn cơ bản của Luật quốc tế, tham gia điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực của đời sống quốc tế mà còn là công cụ hữu hiệu trong việc thực hiện chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Về nguyên tắc, khi các quốc gia bằng những hành vi khác nhau biểu thị việc chấp nhận sự ràng buộc với điều ước quốc tế cũng có nghĩa là các quốc gia chấp nhận sự ràng buộc với toàn bộ nội dung  quy định của điều ước đó. Tuy nhiên, trong một số điều ước quốc tế đã cho phép ngoại lệ của nguyên tắc này, chấp nhận khả năng quốc gia thành viên không bị ràng buộc bởi một hoặc một số điều khoản của điều ước thông qua hoạt động bảo lưu điều ước quốc tế. Hoạt động bảo lưu có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quốc gia khi tham gia điều ước quốc tế. Bảo lưu điều ước được coi là giải pháp vừa đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế vừa đảm bảo quyền, lợi ích của quốc gia. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề tương đối phức tạp, vừa có sự đan xen giữa yếu tố pháp lý và yếu tố chính trị.

Cuốn sách được biên soạn với mong muốn đem đến cho bạn đọc những chi thức về điều ước quốc tế nói chung và bảo lưu điều ước quốc tế nói riêng.

Nội dung cuốn sách gồm 5 chương. Cụ thể như sau:

Chương I. Một số vấn đề lý luận về bảo lưu điều ước quốc tế

  1. Lịch sử hình thành và phát triển của chế định bảo lưu trong luật điều ước quốc tế
  2. Định nghĩa và đặc điểm của bảo lưu điều ước quốc tế
  3. Bảo lưu điều ước quốc tế và một số tuyên bố đơn phương khác của quốc gia khi tham gia điều ước quốc tế
  4. Vai trò của bảo lưu điều ước quốc tế

Chương II. Bảo lưu điều ước theo quy định của pháp luật quốc tế

  1. Quyền bảo lưu và các trường hợp hạn chế bảo lưu điều ước quốc tế
  2. Chấp thuận và phản đối bảo lưu điều ước quốc tế
  3. Rút bảo lưu, rút phản đối bảo lưu và các thủ tục liên quan
  4. Hệ quả pháp lý của bảo lưu điều ước quốc tế

Chương III. Pháp luật và thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của một số quốc gia

  1. Pháp luật và thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của hòa Kỳ
  2. Pháp luật và thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Liên Bang Nga
  3. Pháp luật và thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Cộng hòa Ấn Độ
  4. Pháp luật và thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của một số quốc gia khác
  5. Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam qua thực tiễn bảo lưu của các quốc gia

Chương IV. Pháp luật Việt Nam về bảo lưu điều ước quốc tế

  1. Quá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo lưu điều ước quốc tế
  2. Nội dung các quy định về bảo lưu điều ước quốc tế trong Luật điều ước quốc tế năm 2016
  3. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo lưu điều ước quốc tế

Chương V. Thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam trong một số lĩnh vực

  1. Khái quát tình hình ký kết điều ước quốc tế của Việt Nam
  2. Thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực ngoại giao, lãnh sự
  3. Thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người
  4. Thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực nhân đạo
  5. Thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam trong lĩnh đấu tranh phòng chống tội phạm
  6. Thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam trong một số lĩnh vực khác
  7. Một số đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam

Phụ lục 1. Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia

Phụ lục 2. Công ước Viên năm 1986 về Luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế

Phụ lục 3. Công ước Viên năm 1978 về kế thừa của các quốc gia đối với các điều ước quốc tế.

Trích một đoạn nội dung cuốn sách gửi tới bạn đọc như sau:

"Quá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật Việt nam về bảo lưu điều ước quốc tế

Quá trình hình thành và phát triển các quy định về bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam gắn với quá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về điều ước quốc tế. Quá trình này có thể chia thành hai thời kỳ:

  1. Trước khi ban hành Hiến pháp năm 2013
  2. Sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013

Pháp luật Việt Nam về bảo lưu điều ước quốc tế trước khi ban hành Hiến pháp năm 2013

Giai đoạn từ năm 1945 đến trước đổi mới năm 1986

Ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhân danh nhà nước Việt Nam ký hai điều ước quốc tế đó là hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946. Đây là giai đoạn đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn. Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế vừa tiến hành các cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Ở giai đoạn này, trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam bị bao vây, cô lập, số lượng điều ước quốc tế Việt Nam tham gia chưa nhiều, chủ yếu là các điều ước quốc tế song phương về tương trợ giữa Việt Nam và một số nước xã hội chủ nghĩa. Đối với điều ước quốc tế đa phương Việt Nam có tham gia một vài điều ước trong lĩnh vực quân sự chính trị. Chính vì lẽ đó, các quy phạm pháp luật về điều ước quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn này rất ít, chỉ dừng lại ở cấp quy định chung trong hiến pháp. Trong quy định của hiến pháp năm 1946, hiến pháp năm 19593 hiến pháp năm một chín tám mươi, các quy định về điều ước quốc tế mặc dù có được đề cập nhưng còn ở mức độ hạn chế.

Hiến pháp năm 1946 quy định về điều ước quốc tế ở hai điều: Điều 23 và điều 49 điểm h. Điều 23 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuyển Ý có hiệp ước mà chính phủ ký với nước ngoài”. Điều 49 điểm h quy định: “Chủ tịch nước có quyền đại diện ký hiệp ước với các nước”.

Hiến pháp năm 1959 có các quy định tương tự với thẩm quyền của ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và Hội đồng chính phủ trong công tác đối ngoại nói chung và điều ước quốc tế nói riêng tại các điều 53 khoản 12, điều 164 và điều 74 khoản 11 qua đó xác định rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động ký kết, thực hiện điều ước quốc tế.

Theo các điều khoản nói trên, Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền quyết định phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước ký với nước ngoài, trừ trường hợp mà Ủy ban thường vụ Quốc hội xét cần phải trình Quốc Hội quyết định. Chủ tịch nước căn cứ vào quyết định của Quốc Hội hoặc ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn hiệp ước ký với nước ngoài. Hội đồng chính phủ có quyền quản lý công tác đối ngoại.

Các quy định về điều ước quốc tế trong Hiến pháp năm 1980 được ghi nhận tại các Điều 83 khoản 15, điều 100 khoản 16 và Điều 107 khoản 16 xác lập cơ sở pháp lý mở rộng quan hệ đối ngoại, ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế. Theo đó, Quốc Hội có quyền phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp ước quốc tế theo đề nghị của hội đồng nhà nước. Hội đồng nhà nước có quyền phê chuẩn đâu vẫn vào những hiệp ước quốc tế, chưa trường hợp xét thấy cần trình Quốc Hội quyết định. Hội đồng bộ trưởng có quyền tổ chức và quản lý công tác đối ngoại của nhà nước; chỉ đạo thực hiện các hiệp ước và hiệp định đã ký kết.

Ngoài các quy định chung trong các bản hiến pháp chưa có bất kỳ vấn về pháp luật nào cụ thể hóa, điều chỉnh hoạt động ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam và vì lễ độ, ở giai đoạn này, Việt Nam chưa có bất kỳ quy định nào về bảo lưu điều ước quốc tế. Tuy nhiên, trên thực tế Việt Nam đã có một số tuyên bố bảo lưu như khi tham gia bốn công ước Giơnevơ về bảo hộ nạn nhân chiến tranh năm 1949. Việt Nam đưa ra bảo lưu đối với điều 10 công ước Giơnevơ năm 19497 cải thiện tính cách của những người thuộc các lực lượng vũ trang chiến đấu trên bộ bị thương hoặc bị bệnh; điều 10 công ước Giơnevơ năm 1949 về cải thiện tình cảnh của những người thuộc các lực lượng vũ trang trên biển bị thương, bị bệnh họ bị đắm tàu., Điều bốn, điều 10, điều 12 và điều tám năm công ước Giơnevơ năm 1949 về đối xử với tù binh chiến tranh; điều 11 và điều bốn năm công ước Giơnevơ năm 1949 Về bảo hộ dân thường trong chiến tranh

Giai đoạn từ năm 1986 đến trước năm 1992

Từ sau Đại hội đảng lần thứ VI vào tháng 12 năm 1986, chính sách đối ngoại của Việt Nam đã có sự đổi mới. Việt Nam khẳng định muốn làm bạn với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị. Sự đổi mới này đã tạo ra bước ngoặt trong hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế từ sau năm 1986, số lượng các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ngày càng tăng cả về số lượng lẫn lĩnh vực, không chỉ là những điều ước quốc tế song phương trong phạm vi các nước xã hội chủ nghĩa mà còn mở rộng đối với tất cả quốc gia, không chỉ là các điều ước quốc tế trong lĩnh vực quân sự chính trị mà còn mở rộng đối với mọi lĩnh vực. Điều này đồng nghĩa với việc số lượng tuyên bố bảo lưu của Việt Nam cũng tăng lên. Để phục vụ cho quá trình hội nhập cũng như đảm bảo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tham gia vào các quan hệ quốc tế, Việt Nam đã quan tâm hơn đến hoạt động ký kết, gia nhập vào các điều ước quốc tế trong đó bao gồm cả vấn đề bảo lưu điều ước quốc tế.

……………."

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách “Bảo lưu điều quốc tế - Khía cạnh pháp luật và thực tiễn” do tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân chủ biên và nhóm tác giả biên soạn, giúp bạn đọc hiểu rõ pháp luật về bảo lưu điều ước quốc tế và thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế ở một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam.

Cuốn sách trình bày một số vấn đề lý luận về bảo lưu điều ước quốc tế; quy định của pháp luật quốc tế về bảo lưu điều ước: quyền bảo lưu, các trường hợp hạn chế bảo lưu, chấp thuận, phản đối, rút bảo lưu; pháp luật và thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.

Về thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế ở Việt Nam, tác giả trình bày quá trình hình thành và phát triển, hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo lưu điều ước quốc tế, nội dung các quy định về bảo lưu điều ước quốc tế trong Luật Điều ước quốc tế năm 2016; đánh giá hoạt động bảo lưu điều ước quốc tế của nước ta ở một số lĩnh vực ngoại giao, lãnh sự, quyền con người và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam.

5. Kết luận

Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích đối với việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập và hoạt động thực tiễn đối với bạn đọc tìm hiểu về bảo lưu điều ước quốc tế.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!