1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Tư tưởng quân sự Việt Nam trong chiến tranh giữ nước" do tác giả Dương Xuân Đống biên soạn.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Tư tưởng quân sự Việt Nam trong chiến tranh giữ nước
Tác giả Dương Xuân Đống biên soạn
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật
3. Tổng quan nội dung sách
Lịch sử quốc gia dân tộc Việt Nam từ khi ra đời tới nay là lịch sử dựng nước và giữ nước gắn bó với nhau. Trong suốt mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân ta phải liên tục đấu tranh chống kẻ thù xâm lược để giành và giữ nền độc lập dân tộc. Có thể nói, trong lịch sử thế giới, không có một dân tộc nào phải thường xuyên tiến hành chiến tranh chống xâm lược, từ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đến chiến tranh giải phóng dân tộc, đồng thời cũng giành được nhiều chiến thắng trong chiến tranh như dân tộc Việt Nam. Thực tiễn lịch sử đã tạo nên truyền thống, khí phách hào hùng của dân tộc và để lại nhiều di sản quân sự quý báu mà không mấy quốc gia có được. Trong đó, trước hết phải nói đến tư tưởng quân sự, nghệ thuật quân sự độc đáo, đặc sắc Việt Nam.
Từ thời dựng nước, cha ông ta đã có ý thức coi trọng việc xây dựng tiềm lực đất nước, phát triển ý thức độc lập, chủ quyền quốc gia và ý chí bảo vệ Tổ Quốc trước các cuộc xâm lược. Tư tưởng xây dựng tiềm lực quân sự được hình thành, bồi đắp qua các thế hệ trong xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội, tướng lĩnh và chiến lược phòng thủ, tấn công, kháng chiến. Các tư tưởng quân sự như: Ngụ binh ư nông, Phòng ngự và phản công chiến lược, Binh quý hồ tinh bất quý hồ đa; Bạt dụng lương tướng, Phụ tử chi binh; Dĩ quả địch chúng, dĩ nhược chế cường;... Những tích lũy trong tư tưởng quân sự theo dọc chiều lịch sử bảo vệ đất nước là di sản vô giá cho các thế hệ sau kế thừa và phát triển.
Nhằm cung cấp tới bạn đọc nguồn tư liệu toàn diện về tư tưởng quân sự Việt Nam trong chiến tranh giữ nước, tác giả Dương Xuân Đống đã biên soạn cuốn sách "Tư tưởng quân sự Việt Nam trong chiến tranh giữ nước".
Cuốn sách được biên soạn với hai phần nội dung chính:
Phần thứ nhất: Tư tưởng quân sự Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc: thời Lý (1009-1225) thời Trần (1225-1400); thời Tây Sơn (1771-1802);
Phần thứ hai: Tư tưởng quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc: Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; Trong hai cuộc chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Nội dung cuốn sách trình bày tư tưởng quân sự Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc từ thời Lý (1009-1225), thời Trần (1225-1400), thời Tây Sơn (1771-1802); tư tưởng quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn - cuộc chiến tranh giải phóng ở thế kỷ XV dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và chống đế quốc Mỹ (1954-1975), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
4. Đánh giá bạn đọc
Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam. Trong suốt mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân ta phải liên tục đấu tranh chống kẻ thù xâm lược để giành và giữ nền độc lập dân tộc. Thực tiễn lịch sử đã tạo nên truyền thống, khí phách hào hùng của dân tộc và để lại nhiều di sản quân sự quý báu mà không mấy quốc gia có được. Trong đó, trước hết phải nói đến tư tưởng quân sự, nghệ thuật quân sự độc đáo, đặc sắc Việt Nam.
Nội dung cuốn sách Tư tưởng quân sự Việt Nam trong chiến tranh giữ nước giúp bạn đọc thấy rõ dân tộc Việt Nam đánh thắng quân xâm lược, trong hàng nghìn năm lịch sử, không phải chỉ riêng bằng phương tiện là quân đội và binh khí – kỹ thuật mà là bằng sức mạnh của quân đội liên kết với quần chúng vũ trang trong phương pháp tiến hành chiến tranh nhân dân, với sự tận dụng triệt để phương pháp tư duy quân sự (tư tưởng quân sự) và phương pháp hành động quân sự (nghệ thuật quân sự). Trong quá trình lịch sử, nội dung của phương pháp hành động quân sự bao gồm hai thành phần chủ yếu là chiến lược và chiến thuật, đến thời hiện đại, cụ thể là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ vừa qua, đã xuất hiện thêm thành phần thứ ba là nghệ thuật chiến dịch, được hình thành trên cơ sở truyền thống quân sự dân tộc và lý luận quân sự Mác – Lê-nin.
Thông qua việc trình bày một cách hệ thống và lôgíc các tư tưởng quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc ở nước ta qua các thời kỳ, bạn đọc có thể hiểu được các tư tưởng quân sự trên đã có sự tiếp nối và phát triển qua các giai đoạn, phù hợp với tình hình lịch sử đất nước, trở thành tài sản quý giá và làm phong phú gia tài quân sự, quốc phòng nói chung, tư tưởng quân sự Việt Nam nói riêng trong lịch sử.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Tư tưởng quân sự Việt Nam trong chiến tranh giữ nước".
Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây nội dung về nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc - nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ để bạn đọc tham khảo:
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và kế thừa tinh hoa truyền thống đánh giặc của dân tộc, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ không chỉ có sự phát triển vượt bậc cả về chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật (chiến đấu) mà còn là một nền nghệ thuật quân sự chứa đựng nhiều nét độc đáo.
Nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc:
Hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc ta vừa có tính chất của cuộc chiến tranh giải phóng vừa có tính chất của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Nhưng, tựu trung, đó đều là những cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh tự vệ chính nghĩa, do toàn dân tiến hành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chống lại chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Không chỉ dựa vào quân đội để tiến hành chiến tranh, mà chúng ta đánh giặc bằng sức mạnh của cả dân tộc. Nếu lực lượng tiến hành chiến tranh của đế quốc xâm lược là quân đội của chúng và bè lũ tay sai, bù nhìn do chúng lập nên, thì đối với ta là lực lượng toàn dân. Sự “khác thường” đó đặt ra cho nghệ thuật quân sự Việt Nam phải giải quyết những vấn đề cũng “khác thường” so với các kiểu chiến tranh cổ điển có tính quy ước; nghĩa là, nghệ thuật quân sự của ta là nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc. Nó khác hẳn với nghệ thuật quân sự của kẻ xâm lược - nghệ thuật tổ chức lực lượng quân sự nhà nghề với những cỗ máy chiến tranh khổng lồ, chuyên nghiệp.
Đối tượng của nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng của ta là toàn dân. Để lực lượng đông đảo đó đủ sức đánh thắng những đội quân nhà nghề, ta đã tổ chức lực lượng theo cấu trúc hình tháp. Phần chân tháp là hàng triệu dân quân du kích, tự vệ gắn liền với lực lượng toàn dân; phần thân tháp là bộ đội địa phương gắn liền với lực lượng kháng chiến của từng huyện, tỉnh, thành phố; phần đỉnh tháp là bộ đội chủ lực. Đó là nghệ thuật tổ chức có tính khoa học, tính thống nhất và chặt chẽ, làm cho toàn dân ta triệu người như một, tạo sức mạnh tổng hợp lớn nhất để đánh địch, thắng địch. Đi đôi với nghệ thuật tổ chức lực lượng, ta xác định hai hình thức đấu tranh chủ yếu: đấu tranh quân sự kết hợp đấu tranh chính trị; hai phương thức tác chiến cơ bản: tác chiến tập trung và tác chiến du kích. Các hình thức, phương thức đó được vận dụng hết sức linh hoạt, tùy thuộc yêu cầu đấu tranh cách mạng của từng thời điểm, giai đoạn, gắn với từng địa bàn cụ thể và từng đối tượng cụ thể. Với nghệ thuật tổ chức và vận dụng các hình thức, phương thức như thế, ta đã xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân “thiên la địa võng”, rộng khắp, vững chắc, nhưng mạnh ở trọng điểm. Điều đó lý giải vì sao ta có thể "Mở mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay ở cả sau lưng địch, trong ruột địch" trong kháng chiến chống Pháp; và "Kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, luồn sâu vào hậu phương địch mà đánh..." trong kháng chiến chống Mỹ, bảo đảm cho ta luôn đánh địch ở thế chủ động, càng đánh càng mạnh. Ngược lại, địch luôn ở thế bị động, càng đánh càng bộc lộ sơ hở, càng đánh càng bị dồn vào nguy cơ thất bại. Lịch sử đã diễn ra đúng như vậy. Trong kháng chiến chống Pháp, nhờ có chiến tranh nhân dân mà ta vừa có thể kháng chiến, vừa có thể kiến quốc; nhờ nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc mà ta vừa có điều kiện tập trung đánh lớn ở Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch; đồng thời, vừa có điều kiện đánh địch rộng khắp, loại khỏi vòng chiến đấu 112.000 tên địch ở các chiến trường khác. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhờ nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc, ta đã kết thành lưới lửa của chiến tranh nhân dân, diệt hàng nghìn máy bay, tàu chiến, bắt sống hàng trăm giặc lái, đánh bại hoàn toàn chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc. Trên chiến trường miền Nam, chiến tranh nhân dân của ta đã làm cho địch khiếp đảm (báo chí Mỹ thú nhận, trong các năm 1965, 1966, 1967, có tới 25% lính thủy đánh bộ Mỹ ở Quân đoàn 1 của chúng bị thương vong do chông, mìn của ta gây nên). Nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc của ta có sự phát triển mới về chất, tạo cơ sở cho lực lượng vũ trang ba thứ quân ở miền Nam phát triển lớn mạnh chưa từng thấy. Cùng với đó, xuất hiện những khái niệm mới của chiến tranh cách mạng miền Nam, như: “đội quân chính trị”, “vành đai diệt Mỹ”, “phong trào đồng khởi”..., khiến Mỹ-ngụy từng bước rơi vào cơn khốn quẫn và kết cục thất bại cả về quân sự và chính trị. Như vậy, có thể nói, chiến tranh nhân dân mà cốt lõi là nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc của ta đã đánh thắng chiến tranh xâm lược bằng lực lượng quân đội nhà nghề của địch. Đó là nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam đương đại.