1. Doanh nghiệp bị ra quyết định mở thủ tục phá sản được hiểu như thế nào?

Phá sản là kết quả của tình hình tài chính khó khăn, khi một công ty hoặc doanh nghiệp không thể trả các khoản nợ khi chúng đến hạn, hoặc gặp thua lỗ đến mức không thể khắc phục. Khi điều này xảy ra, tòa án hoặc cơ quan tài phán sẽ ra quyết định tuyên bố phá sản cho công ty hoặc doanh nghiệp đó.

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp tuyên bố phá sản tăng mỗi ngày. Theo thống kê từ Bộ Thống kê trong 6 tháng đầu năm 2023, đã có 31.000 doanh nghiệp dừng hoạt động để chờ giải thể (tăng 28,9% so với cùng kỳ năm trước); và 8.800 doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể (tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước).

Theo Luật Phá sản 2014, khi một doanh nghiệp không thể thanh toán nợ trong vòng 3 tháng kể từ ngày đến hạn, những bên liên quan có quyền và nghĩa vụ theo quy định của Điều 5 của luật sẽ yêu cầu mở thủ tục phá sản. Tòa án sẽ ra quyết định mở thủ tục phá sản nếu đủ điều kiện.

Theo Điều 2 của Luật Phá sản doanh nghiệp, một doanh nghiệp có thể được coi là có dấu hiệu của tình trạng phá sản nếu liên tục thua lỗ trong 2 năm và không đủ khả năng trả nợ đến hạn, cũng như không thể trả đủ lương cho nhân viên trong 3 tháng liên tục. Điều này cho thấy doanh nghiệp không còn khả năng tài chính để bảo đảm quyền lợi của nhân viên.

Do đó, việc xác định liệu một doanh nghiệp có đang tiếp tục vào tình trạng phá sản không chỉ dựa vào khả năng thanh toán nợ mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như khả năng trả lương cho nhân viên, hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính tổng thể của doanh nghiệp.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, phá sản được định nghĩa là tình trạng mà một doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán và Tòa án phải ra quyết định tuyên bố phá sản. Quyền mở thủ tục phá sản hoặc yêu cầu phá sản thuộc về doanh nghiệp chính hoặc các bên liên quan có quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, khi họ nhận thấy rằng công ty không còn khả năng thanh toán và cần Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản.

 

2. Khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp có được tiếp tục hoạt động kinh doanh hay không?

Theo quy định của Điều 47 trong Luật Phá sản 2014, sau khi quyết định mở thủ tục phá sản được đưa ra, các doanh nghiệp và hợp tác xã phải tuân thủ các quy trình hoạt động như sau:

- Sau khi quyết định mở thủ tục phá sản được đưa ra, các doanh nghiệp và hợp tác xã vẫn tiếp tục hoạt động kinh doanh dưới sự giám sát của Thẩm phán và Quản tài viên, người quản lý, thanh lý tài sản.

- Trong trường hợp người đại diện pháp lý của doanh nghiệp hoặc hợp tác xã được xem là không có khả năng điều hành, hoặc nếu có dấu hiệu vi phạm khoản 1 của Điều 48 của Luật này, Thẩm phán sẽ ra quyết định thay đổi người đại diện pháp lý của doanh nghiệp hoặc hợp tác xã theo đề xuất từ Hội nghị chủ nợ hoặc Quản tài viên, người quản lý, thanh lý tài sản.

Do đó, trong trường hợp mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp vẫn được phép tiếp tục hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, để tránh thiệt hại hoặc các hoạt động phi pháp nhằm tẩu tán tài sản, tất cả các hoạt động kinh doanh phải được giám sát chặt chẽ bởi Thẩm phán và Quản tài viên, người quản lý, thanh lý tài sản.

Ngoài ra, Điều 49 của Luật Phá sản 2014 cũng quy định về việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp và hợp tác xã sau khi quyết định mở thủ tục phá sản.

- Sau khi quyết định mở thủ tục phá sản được đưa ra, các doanh nghiệp và hợp tác xã phải thông báo cho Quản tài viên, người quản lý, thanh lý tài sản trước khi thực hiện các hoạt động sau đây:

+ Các hoạt động liên quan đến việc vay, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, mua bán, chuyển nhượng, cho thuê tài sản; bán, chuyển đổi cổ phần; chuyển quyền sở hữu tài sản.

+ Chấm dứt thực hiện hợp đồng có hiệu lực.

+ Thanh toán khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản; trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Các hình thức báo cáo bao gồm trực tiếp, thư bảo đảm, thư thông thường, thư điện tử, fax, telex.

- Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo từ doanh nghiệp, hợp tác xã, Quản tài viên, người quản lý, thanh lý tài sản phải phản hồi cho doanh nghiệp, hợp tác xã về việc được hoặc không được thực hiện các hoạt động quy định tại khoản 1 của điều này và phải chịu trách nhiệm về phản hồi của mình. Quản tài viên, người quản lý, thanh lý tài sản cũng cần báo cáo nội dung phản hồi cho Thẩm phán.

- Các hoạt động quy định tại khoản 1 này nếu được thực hiện mà không có sự đồng ý của Quản tài viên, người quản lý, thanh lý tài sản sẽ bị đình chỉ, phục hồi lại trạng thái ban đầu và giải quyết hậu quả theo quy định của pháp luật.

 

3. Doanh nghiệp bị cấm thực hiện những hoạt động nào khi có quyết định mở thủ tục phá sản

Theo Điều 48 của Luật Phá sản 2014, quy định về những hoạt động bị cấm của doanh nghiệp sau khi quyết định mở thủ tục phá sản như sau:

- Sau khi quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hoạt động sau:

   + Cất giấu, tẩu tán, tặng bớt tài sản.

   + Thanh toán các khoản nợ không có bảo đảm, trừ các khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản và trả lương cho nhân viên trong doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại điểm c, Khoản 1 của Điều 49 trong Luật này.

   + Từ bỏ quyền đòi nợ.

   + Chuyển đổi các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc nợ có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Các giao dịch được quy định tại Khoản 1 của Điều này được coi là vô hiệu và được xử lý theo quy định tại Điều 60 của Luật này.

Tóm lại, sau khi quyết định mở thủ tục phá sản được đưa ra, doanh nghiệp vẫn được phép tiếp tục kinh doanh, nhưng phải tuân thủ chặt chẽ sự giám sát từ các cơ quan có thẩm quyền.

 

4. Quy định về giám sát hoạt động của doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản?

Quy định về việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản được tổ chức như sau:

(i) Sau khi quyết định mở thủ tục phá sản được đưa ra, doanh nghiệp phải thông báo cho Quản tài viên, người quản lý, thanh lý tài sản trước khi thực hiện các hoạt động sau đây:

- Hoạt động liên quan đến việc vay, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, mua bán, chuyển nhượng, cho thuê tài sản; bán, chuyển đổi cổ phần; chuyển quyền sở hữu tài sản.

- Chấm dứt thực hiện hợp đồng có hiệu lực.

- Thanh toán các khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản; trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp.

(ii) Hình thức báo cáo có thể là báo cáo trực tiếp, thư bảo đảm, thư thông thường, thư điện tử, fax, hoặc telex.

(iii) Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo từ doanh nghiệp, Quản tài viên, người quản lý, thanh lý tài sản phải phản hồi cho doanh nghiệp về việc được hoặc không được thực hiện các hoạt động quy định tại đoạn (i) và phải chịu trách nhiệm về phản hồi của mình. Quản tài viên, người quản lý, thanh lý tài sản cũng cần báo cáo nội dung phản hồi cho Thẩm phán.

(iv) Các hoạt động quy định tại đoạn (i) nếu được thực hiện mà không có sự đồng ý của Quản tài viên, người quản lý, thanh lý tài sản sẽ bị đình chỉ, phục hồi lại trạng thái ban đầu và giải quyết hậu quả theo quy định của pháp luật.

(Căn cứ Điều 49 Luật Phá sản 2014).

Bài viết liên quan: Phá sản doanh nghiệp là gì? Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khi nào?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp có được tiếp tục kinh doanh không? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!