1. Nhớt thải có phải là chất thải nguy hại không?
Nhớt thải là một loại chất thải có thành phần dầu hoặc hóa chất, và việc xác định liệu nó có được coi là chất thải nguy hại hay không có thể được quy định bởi các hướng dẫn và quy định của cơ quan quản lý môi trường. Theo quy định tại tiết 3.6, tiểu mục 3.6 Mục A Mẫu số 01 PHỤ LỤC III, được ban hành kèm theo Thông tư 02/2022/TT-BTNMT và được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Quyết định 3323/QĐ-BTNMT năm 2022, có hướng dẫn sử dụng Danh mục chất thải nguy hại, chất thải công nghiệp phải kiểm soát và chất thải rắn công nghiệp thông thường (sau đây gọi tắt là Danh mục chất thải).
Theo đó: Tên gọi “dầu thải” hoặc “hoá chất thải” được áp dụng khi thành phần dầu hoặc hóa chất chiếm tỷ trọng ưu thế trong chất thải (lớn hơn hoặc bằng 50%); tên gọi chất thải có hoặc lẫn dầu hoặc chất thải có hoặc lẫn một hoá chất nhất định được áp dụng khi thành phần dầu hoặc hóa chất chiếm tỷ trọng kém ưu thế hơn so với các thành phần khác trong chất thải (nhỏ hơn 50%).
Theo quy định tại tiểu mục 17, Mục B, PHỤ LỤC III ban hành kèm theo Thông tư 02/2022/TT-BTNMT và được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Quyết định 3323/QĐ-BTNMT năm 2022, có danh mục nhóm chất thải được phân loại theo các nhóm nguồn hoặc dòng thải chính. Trong danh mục này, có các mục sau đây liên quan đến chất thải như dầu thải, chất thải từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi chất lạnh và chất đẩy.
Đầu tiên, chất thải dầu thải được xếp vào nhóm chất thải có nguồn gốc từ dầu hoặc các loại chất lỏng khác. Chất thải này có thể bao gồm các loại dầu thải từ quá trình sản xuất, sử dụng hoặc xử lý các sản phẩm dầu khác nhau. Đây là những chất thải có thành phần dầu chiếm tỷ trọng ưu trội (lớn hơn hoặc bằng 50%) trong chất thải.
Tiếp theo, chất thải từ nhiên liệu lỏng cũng được xếp vào nhóm chất thải. Đây là các chất thải có nguồn gốc từ các loại nhiên liệu lỏng như xăng, dầu diesel, dầu mỡ, dầu hỏa, các chất lỏng cháy, và các chất thải có thành phần nhiên liệu lỏng khác. Các chất thải này thường phát sinh từ quá trình sử dụng và xử lý nhiên liệu lỏng trong các ngành công nghiệp, giao thông vận tải và các hoạt động khác.
Chất thải dung môi hữu cơ là một loại chất thải khác trong danh mục. Đây là các chất thải có nguồn gốc từ các dung môi hữu cơ, bao gồm các hợp chất hóa học như benzen, toluen, dichloromethan, aceton, etanol, và nhiều hợp chất hữu cơ khác. Các chất thải này thường phát sinh từ quá trình sản xuất, sử dụng và xử lý các dung môi hữu cơ trong các ngành công nghiệp như hóa chất, dệt may, sản xuất điện tử và các ngành công nghiệp khác.
Môi chất lạnh cũng được liệt kê trong danh mục chất thải. Đây là các chất thải có nguồn gốc từ các chất lạnh như freon, hydrofluorocarbon (HFC), hydrochlorofluorocarbon (HCFC) và các loại chất lạnh khác. Các chất thải này thường phát sinh từ quá trình sử dụng, bảo dưỡng và xử lý các hệ thống làm lạnh trong ngành công nghiệp, hệ thống điều hòa không khí và các ứng dụng khác.
Theo quy định hiện hành, nhớt được xem là một loại nhiên liệu lỏng và do đó, nhớt thải được coi là chất thải phát sinh từ nhiên liệu lỏng và thuộc danh mục chất thải nguy hại. Như vậy, nhớt thải được xem là một loại chất thải nguy hại.
Nhớt thải có nguồn gốc từ quá trình sử dụng và tiêu thụ nhiên liệu lỏng, chẳng hạn như dầu động cơ, dầu mỡ hoặc các loại dầu công nghiệp khác. Khi các loại nhiên liệu lỏng này được sử dụng, nhớt được thêm vào nhằm bôi trơn và làm mát các bộ phận máy móc. Tuy nhiên, theo thời gian, nhớt mất đi tính chất bôi trơn ban đầu và trở thành nhớt thải.
Nhớt thải có thể chứa các chất gây ô nhiễm môi trường và có khả năng gây hại đến sức khỏe con người. Các chất này bao gồm các hợp chất hữu cơ như hydrocarbon, kim loại nặng và các chất phụ gia có thể gây độc hại. Khi nhớt thải không được xử lý và tiếp xúc với môi trường, nó có thể gây ô nhiễm không khí, nước và đất.
Để giảm tác động tiêu cực của nhớt thải, việc quản lý và xử lý chất thải này là rất quan trọng. Các quy định và hướng dẫn đã được ban hành để đảm bảo việc thu gom, vận chuyển, lưu trữ và xử lý nhớt thải được thực hiện một cách an toàn và bảo vệ môi trường. Các cơ sở sản xuất hoặc sử dụng nhiên liệu lỏng phải tuân thủ các quy tắc quy định và đảm bảo rằng nhớt thải được thu gom và xử lý theo quy trình đúng đắn.
Trong quá trình xử lý nhớt thải, các phương pháp như tái chế, tái sử dụng hoặc xử lý theo quy trình khác có thể được áp dụng. Tùy thuộc vào tính chất và mức độ ô nhiễm của nhớt thải, quyết định về phương pháp xử lý phù hợp sẽ được đưa ra.
Tóm lại, dựa trên quy định hiện hành, nhớt thải được xem là một loại chất thải nguy hại do nó là sản phẩm phụ phát sinh từ việc sử dụng và tiêu thụ nhiên liệu lỏng. Nhớt thải có thể gây ô nhiễm môi trường và có khả năng gây hại đến sức khỏe con người. Do đó, việc quản lý và xử lý nhớt thải là rất quan trọng để đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường.
2. Có bắt buộc xây dưới dạng kho khu vực lưu chứa của cơ sở phát sinh chất thải nguy hại không?
Khu vực lưu chứa của cơ sở phát sinh chất thải nguy hại, theo quy định tại Điều 35 Thông tư 02/2022/TT-BTNMT, phải được xây dựng dưới dạng kho không, trừ khi đáp ứng được các yêu cầu sau đây tại khu vực lưu giữ chất thải nguy hại (không bắt buộc phải xây dựng dưới dạng kho): Khu vực lưu giữ chất thải nguy hại (không bắt buộc phải xây dựng dưới dạng kho) phải đáp ứng các yêu cầu sau: mặt sàn trong khu vực lưu giữ chất thải nguy hại bảo đảm kín khít, không bị thẩm thấu và tránh nước mưa chảy tràn từ bên ngoài vào; có mái che kín nắng, mưa cho toàn bộ khu vực lưu giữ chất thải nguy hại, trừ các thiết bị lưu chứa chất thải nguy hại với dung tích lớn hơn 02 m3 thì được đặt ngoài trời; có biện pháp hoặc thiết kế để hạn chế gió trực tiếp vào bên trong; có biện pháp cách ly với các loại chất thải nguy hại hoặc nhóm chất thải nguy hại khác có khả năng phản ứng hóa học với nhau; khu lưu giữ chất thải nguy hại phải bảo đảm không chảy tràn chất lỏng ra bên ngoài khi có sự cố rò rỉ, đổ tràn.
Theo quy định tại Điều 35 Thông tư 02/2022/TT-BTNMT, khu vực lưu chứa của cơ sở phát sinh chất thải nguy hại không bắt buộc phải xây dựng dưới dạng kho. Điều này đồng nghĩa với việc cơ sở có thể lựa chọn các biện pháp khác để đảm bảo an toàn và quản lý chất thải nguy hại trong khu vực lưu giữ.
Tuy không yêu cầu xây dựng kho, nhưng khu vực lưu giữ chất thải nguy hại vẫn phải tuân thủ một số yêu cầu để đảm bảo an toàn và tránh những tác động tiêu cực đối với môi trường. Trước hết, mặt sàn trong khu vực lưu giữ phải được thiết kế sao cho kín khít, không bị thẩm thấu và không cho phép nước mưa chảy tràn vào từ bên ngoài. Điều này nhằm tránh việc chất thải nguy hại tiếp xúc với môi trường bên ngoài và gây ô nhiễm.
Ngoài ra, khu vực lưu giữ cần có mái che kín nắng, mưa để bảo vệ chất thải nguy hại khỏi tác động của thời tiết. Tuy nhiên, các thiết bị lưu chứa có dung tích lớn hơn 02 m3 được phép đặt ngoài trời. Điều này giúp giảm áp lực và tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu giữ chất thải nguy hại.
Để đảm bảo không khí bên trong khu vực lưu giữ, cần áp dụng biện pháp hoặc thiết kế để hạn chế gió trực tiếp vào bên trong. Điều này nhằm tránh việc các chất thải nguy hại bay vào không khí và gây hại cho sức khỏe con người và môi trường.
Bên cạnh đó, khu vực lưu giữ cần có biện pháp cách ly giữa các loại chất thải nguy hại hoặc nhóm chất thải nguy hại có khả năng phản ứng hóa học với nhau. Điều này giúp tránh tình huống không mong muốn xảy ra do phản ứng giao thoa giữa các chất thải nguy hại.
3. Số lượng lớp vỏ đối với bao bì mềm chứa chất thải nguy hại
Bao bì mềm chất thải nguy hại phải có bao nhiêu lớp vỏ, thì theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 Thông tư 02/2022/TT-BTNMT như sau:
Yêu cầu kỹ thuật về bao bì, thiết bị lưu chứa, khu vực lưu giữ chất thải nguy hại đối với chủ xử lý chất thải nguy hại
Bao bì chất thải nguy hại (vỏ cứng hoặc vỏ mềm) phải đáp ứng các yêu cầu sau: Vỏ bao bì có khả năng chống được ăn mòn, không bị gỉ, không phản ứng hóa học với chất thải nguy hại chứa bên trong, có khả năng chống thấm hoặc thẩm thấu, rò rỉ, đặc biệt tại điểm tiếp nối và vị trí nạp, xả chất thải; bao bì mềm có ít nhất 02 lớp vỏ.
Theo quy định tại điểm a, khoản 1 của Điều 36 trong Thông tư 02/2022/TT-BTNMT, bao bì mềm dùng để đóng gói chất thải nguy hại phải có ít nhất hai lớp vỏ. Yêu cầu này được đặt ra nhằm đảm bảo tính an toàn và bảo vệ môi trường trong việc quản lý, vận chuyển, lưu trữ và xử lý chất thải nguy hại.
Bao bì mềm là loại bao gồm các vật liệu dẻo, linh hoạt và có tính đàn hồi cao. Điều này cho phép nó thích nghi với kích thước và hình dạng của chất thải nguy hại để bảo vệ chúng khỏi sự tiếp xúc trực tiếp với môi trường xung quanh. Với hai lớp vỏ, bao bì mềm trở nên mạnh mẽ hơn và có khả năng chịu được các tác động và áp lực từ bên trong, giảm nguy cơ rò rỉ chất thải và sự ô nhiễm môi trường.
Ngoài ra, yêu cầu về ít nhất hai lớp vỏ cũng đảm bảo rằng bao bì mềm có khả năng chống ăn mòn và không bị gỉ khi tiếp xúc với chất thải nguy hại. Chất thải có thể chứa các chất hóa học độc hại, corrosive, hoặc có khả năng tác động đến tính chất vật lý của bao bì. Do đó, lớp vỏ bên ngoài cùng của bao bì mềm phải có khả năng chống lại sự tác động này và đảm bảo tính nguyên vẹn của chất thải bên trong.
Quy định về hai lớp vỏ cho bao bì mềm chất thải nguy hại là một phần quan trọng của việc quản lý chất thải nguy hại. Chủ xử lý chất thải phải tuân thủ quy định này và đảm bảo rằng bao bì được sử dụng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Điều này đảm bảo rằng chất thải nguy hại được đóng gói và vận chuyển một cách an toàn, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khỏe con người.
Xem thêm >> Thủ tục để vận chuyển chất thải nguy hại xuyên biên giới?
Liên hệ qua 1900.6162 hoặc qua lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn