- 1. Chia tiền là sổ tiết kiệm đứng tên vợ khi ly hôn?
- 2. Phân chia tài sản là sổ tiết kiệm khi ly hôn?
- 3. Sổ tiết kiệm riêng có bị chia khi ly hôn không ?
- 4. Tư vấn làm đơn kiện vợ vu khống hay làm đơn ly hôn ?
- 5. Tài sản của vợ chồng khi ly hôn được phân chia thế nào ?
- 6. Thủ tục đòi bồi thường công sức lao động khi ly hôn ?
- 7. Con mới 3 tháng tuổi vợ chồng có quyền yêu cầu ly hôn không ?
- 8. Có được khởi kiện nhà chồng không muốn ly hôn?
- 9. Thủ tục ly hôn khi mâu thuẫn gia đình kéo dài?
- 10. Ly hôn mà chồng không có mặt có giải quyết được không?
- 11. Ly hôn do vợ chồng không hợp nhau, đã sống ly thân ?
- 12. Trách nhiệm nuôi con và trả nợ chung sau khi ly hôn?
- 13. Chia tài sản khi ly hôn chồng đứng tên trên sổ đỏ?
- 14. Chia tài sản chung khi ly hôn như thế nào?
- 15. Tài sản mang tên vợ ly hôn có được chia không?
1. Chia tiền là sổ tiết kiệm đứng tên vợ khi ly hôn?
Nếu em đưa cho mẹ đứng tên sổ tiết kiệm ấy, thì khi em muốn em là người sở hữu sổ tiết kiệm ấy thì phải làm những thủ tục nào khi mở sổ tiết kiệm ạ? Hoặc em và mẹ đồng đứng tên sổ tiết kiệm ấy. Thì chồng em có liên quan gì đến việc phân chia tài sản sau ly hôn ko ạ?
Xin được tư vấn sớm, cảm ơn!
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về chia tài sản, gọi:1900.6162
Luật sư tư vấn:
Điều 33, luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:
Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Vậy , với trường hợp của bạn , bạn cần xác định rõ số tiền bạn đưa vào sổ tiết kiệm được hình thành như thế nào, nếu số tiền này phát sinh trước thời kỳ hôn nhân hoặc bạn được người thân tặng cho , để lại thừa kế cho thì trong trường hợp này bạn hoàn toàn có thể chứng minh đây là tài sản riêng của bạn bằng cách đưa ra giấy tờ về việc tặng cho , thừa kế hoặc chứng từ gửi tiền vào tài khoản ngân hàng trước thời kỳ hôn nhân ... nếu trong trường hợp vợ chồng bạn có tranh chấp về phần tài sản này khi ly hôn mà bạn không có bằng chứng chứng minh đây là tài sản riêng của mình thì số tiền này sẽ được mặc định là tài sản chung của cả hai vợ chồng.
Trường hợp số tiền này là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa hai vợ chồng bạn thì dù bạn đứng tên một mình trên sổ thì đây cũng được coi là tài sản chung , theo nguyên tắc chia tài sản thì sẽ chia đôi , có tính đến công sức đóng góp của mỗi người và một số yếu tố khác , cụ thể :
Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:
Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Tuy nhiên , khi giải quyết ly hôn tại tòa án dân sự thì tòa án chỉ giải quyết những yêu cầu mà vợ chồng bạn hoặc những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đưa ra , nếu chồng bạn và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu đưa vấn đề về tài sản chung ra chia thì phần tài sản này tòa án sẽ không giải quyết . Cũng có thể đặt ra một giả thiết thường gặp đó là hai bạn có một khoản nợ chung nhưng số tài sản chung không đủ để trả số nợ này , chủ nợ cũng có thể yêu cầu tòa án trưng cầu xem hai bạn còn tài sản chung ở đâu hay không ?
Nếu sổ tiết kiệm này do mẹ bạn đứng tên thì trong trường hợp của bạn , mẹ bạn mới là chủ sở hữu hợp pháp của phần tài sản này , mẹ bạn sẽ hoàn toàn có quyền định đoạt mà không cần thông qua chồng bạn.
2. Phân chia tài sản là sổ tiết kiệm khi ly hôn?
Vậy xin hỏi luật sư nếu ly dị thì tôi có buộc phải chia đôi số tiền tiết kiệm đó không? Nếu có thì xin hỏi có cách nào khác để không phải chia đôi số tiền không?
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư công tư vấn Luật Minh Khuê. Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
Trả lời:
Điều 33, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 về tài sản chung của vợ chồng quy định:
"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."
Theo đó, mặc dù cuốn sổ tiết kiệm đó mang tên bạn nhưng nó lại được hình thành trong thời gian tồn tại mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng bạn. Do vậy, nếu không có thỏa thuận nào khác thì cuốn sổ tiết kiệm đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng.
Tuy nhiên, Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014, nếu bạn đưa ra được các căn cứ hợp pháp chứng minh rằng toàn bộ số tiền trong sổ tiết kiệm đó là của riêng bạn, được hình thành từ các nguồn như được thừa kế riêng, tặng cho riêng, hay được chia riêng cho bạn trong thời kỳ hôn nhân và bạn không có thỏa thuận nhập số tiền đó vào khối tài sản chung thì khi giải quyết ly hôn, vợ bạn sẽ không có quyền yêu cầu chia khối tài sản đó.
Ý kiến bổ sung:
Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình 2014:
"Điều 55. Thuận tình ly hônTrong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."
Và Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014: Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:
"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."
Trong trường hợp của chị, nếu chị chứng minh được sổ tiết kiệm đó là tài sản riêng trước hôn nhân hoặc trong thời kỳ hôn nhân tài sản nay của chị là tài sản riêng thì không phải chia, còn nếu không chứng minh được dù sổ tiết kiệm có ghi tên chị cũng vẫn phải chia theo nguyên tắc chia tài sản của luật hôn nhâm và gia đình.
Một số mẫu văn bản áp dụng cho thủ tục ly hôn
- Mẫu đơn xin ly hôn;
- Mẫu đơn thuận tình ly hôn;
- Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương;
- Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng;
3. Sổ tiết kiệm riêng có bị chia khi ly hôn không ?
>> Luật sư tư vấn về pháp luật hôn nhân, gọi:1900.6162
Trả lời:
Căn cứ tại điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014, việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn được xác định theo nguyên tắc sau:
“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”
Như vậy, về nguyên tắc việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó, còn tài sản chung sẽ được chia đôi.
Vậy mẹ bạn cần chứng minh sổ tiết kiệm đo là tài sản riêng của mẹ bạn.
Tài sản riêng của vợ chồng được quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”
Vậy sổ tiết kiệm không đupwjc xem là tài sản riêng của mẹ bạn nếu, theo thủ tục chia tài sản sau khi ly hôn thì vẫn là tài sản hhung và bị chia đôi. Nhưng theo thông tin bạn cung cấp, bạn đứng tên trong sổ tiết kiệm đó thì trước hết trên giấy tờ thì đó là ài sản của bạn không phải của mẹ bạn, còn việc thỏa thuận miệng giữa bạn và mẹ bạn thì không ai biết và không nên để cho bố bạn biết thì tài sản đó sẽ không được đưa ra chia khi ly hôn.
4. Tư vấn làm đơn kiện vợ vu khống hay làm đơn ly hôn ?
>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến gọi : 1900.6162
Trả lời :
Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi , chúng tôi tư vấn vấn đề của bạn như sau:
Thứ nhất, Gia đình bạn hiện đang chung sống với nhau không hạnh phúc, hôn nhân đã mâu thuẫn tới mức trầm trọng, không thể hòa hợp lại được. Và vợ bạn có đưa ra các lý do về những mâu thuẫn trên , bạn cho rằng vợ bạn vu khống cho bạn không có chính xác, bạn muốn khởi kiện vợ mình tội vu khống.
Thứ hai , Nếu đời sống hôn nhân của bạn không thể hòa hợp được thì bạn và vợ mình cần có những buổi nói chuyện, cả hai bên nếu không thể chấp nhận được cuộc hôn nhân này thì cả vợ chồng cùng thỏa thuận ly hôn, cùng xác lập quyền và nghĩa vụ đối với các con cũng như tài sản ly hôn được thì thuộc trường hợp thuận tình ly hôn. Ngược lại , nếu vợ bạn không đồng ý ly hôn thì bạn có quyền đơn phương ly hôn theo Khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn quy định :
"Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn."
Mặt khác , Theo Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội Ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:
" Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."
Theo đó, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết việc ly hôn cho mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong trường hợp vợ bạn không đồng ý việc ly hôn, bạn vẫn có thể tiến hành yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn theo qui định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 khi cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, thấy không thể kéo dài.
* Khi ly hôn bạn muốn con cái và tài sản chia đều theo pháp luật .
- Theo Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội. quy định Việc trông nom , chăm sóc , nuôi dưỡng , giáo dục con sau khy ly hôn như sau:
" 1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."
Hiện nay, vợ chồng bạn có có 2 con (gái 14 tuổi, trai 5 tuổi ). Xét theo quy định pháp luật nêu trên thì bé gái xem xét nguyện vọng của con sẽ muốn ở cùng bố hay mẹ và bé trai hiện 5 tuổi Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.
- Đối với tài sản của vợ chồng bạn sẽ được chia theo nguyên tắc pháp luật tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:
"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."
5. Tài sản của vợ chồng khi ly hôn được phân chia thế nào ?
1. Khi ly hôn chồng em có trách nhiệm chu cấp cho con trong thời gian ly hôn không (vì trong thời gian ấy chồng em không hề chu cấp, thăm hỏi vợ con), em ở nhà ngoại.
2. Em muốn anh ấy chu cấp một lần cho đến khi con em 18 tuổi có được không (vì em cũng không muốn liên hệ với anh ấy nữa)
3. Giấy thoả thuận viết tay mà chồng em viết sẽ trả số tiền vàng cưới cho em trước toà có giá trị không (giấy viết tháng 12/2014)
4. Em là nhân viên kế toán cho anh, khi sinh con em được hưởng chế độ thai sản và số tiền đó chuyển khoản vào tài khoản công ty, vậy khi ly hôn em có được lấy lại không.
5. Trong quá trình chung sống 2 vợ chồng kinh doanh chúng em có mua một xe tải nhỏ bằng giấy tay đứng tên chồng nay xe đó vẫn còn nhưng em không giữ giấy viết tay đấy, vậy có được chia tài sản ấy không.
6. Liệu em có được trả tiền khi làm kế toán cho chồng không.
7. Trong thời gian sống chung anh có thực hiện 1 Hợp đồng kinh tế và có mượn tiền của bên ngoại để thực hiện HĐ này (nay đã trả rồi) nhưng mượn miệng và chuyển khoản vào số CMND của em thì có được chia lợi nhuận từ hợp đồng ấy không.
Xin tư vấn giúp em vì hiện tại em rất khó khăn về tài chính trong khi chồng em bảo sẽ không trả em một đồng vì thời gian em sống với anh ấy việc em ăn, ở, đẻ là do anh ấy lo hết rồi. Chúng em chỉ sống với nhau 01 năm 03 tháng (con em được 05 tháng là nảy sinh mâu thuẫn và về bên ngoại.)
Em xin cảm ơn.
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân và Gia đình gọi:1900.6162
Trả lời:
1. Về vấn đề cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn:
Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định như sau:
“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Sau khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:
"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."
Như vậy, con bạn mới được 5 tháng tuổi thì quyền nuôi con thuộc về bạn trừ khi bạn không đủ điều kiện hoặc bị tước quyền nuôi con, và khi bạn nuôi con thì chồng bạn không trực tiếp nuôi con phải thực hiện cấp dưỡng cho con.
Theo điều 110 Luật hôn nhân gia đình năm 2014:
"Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con."
Theo điều 116,117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về mức và phương thức cấp dưỡng:
"1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."
"Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.
Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."
2. Về giấy thỏa thuận viết tay:
Theo điều 46 Luật hôn nhân gia đình 2014 về tài sản chung của vợ chồng như sau:
"Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung
1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.
2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.
3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."
Như vậy, nếu số tiền vàng cưới của bạn được gộp vào tài sản chung của vợ chồng mà bạn thỏa thuận với chồng bạn về việc trả lại tài sản đó cho bạn thì thỏa thuận này được coi là thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Theo điều 38 Luật hôn nhân gia đình 2014:
"Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này."
Như vậy, thỏa thuận này được công chứng theo yêu cầu của vợ hoặc chồng, có nghĩa là không bắt buộc phải công chứng. Theo quy định của pháp luật thì hiện tại không có quy đinh nào về việc văn bản trả lại tài sản phải công chứng cả, cho nên thỏa thuận này có giá trị pháp lý.
3. Về vấn đề tài sản khi vợ chồng cùng thực hiện kinh doanh:
Theo điều 33 luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."
Theo điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như sau:
"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."
- Đối với số tiền hưởng chế độ thai sản thì theo quy định trên thì tài sản chung của vợ chồng bao gồm cả thu nhập do lao động và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân cho nên số tiền được hưởng chế độ thai sản đó được coi là tài sản chung và bạn sẽ được chia số tiền đó khi ly hôn.
- Đối với tài sản là xe tải, nếu vợ chồng bạn thỏa thuận là dùng tài sản chung để mua chiếc xe đó thì chiếc xe là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp nếu chồng bạn chứng minh được đó là tài sản riêng thì mới không được chia.
- Đối với số tiền lợi nhuận từ hợp đồng kinh tế của chồng bạn thì theo quy định tại điều 33 Luật hôn nhân gia đình nêu trên thì số tiền đó là thu nhập do hoạt động sản xuất, kinh doanh của chồng bạn trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của vợ chồng và được chia đôi.
- Đối với việc trả lương khi làm kế toán cho chồng:
+ Nếu bạn ký hợp đồng lao động với chồng bạn thì khi ly hôn, bạn vẫn làm việc cho công ty của chồng bạn thì bạn vẫn được trả lương.
Nếu sau khi ly hôn, bạn không làm việc nữa thì bạn chấm dứt hợp đồng lao động, nếu việc chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật thì bạn sẽ được trả lương nếu còn thiếu, trả các khoản trợ cấp thôi việc nếu bạn có thời gian làm việc từ đủ 12 tháng trở lên.
6. Thủ tục đòi bồi thường công sức lao động khi ly hôn ?
Luật sư tư vấn:
Căn cứ theo quy định tại Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình như sau:
"1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."
Như vậy, nếu khi ly hôn, cả hai vợ chồng bạn cũng như các thành viên trong gia đình không thể thỏa thuận được với nhau về vấn đề phân chia tài sản chung thì bạn có quyền nộp đơn đến Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết. Bạn sẽ làm đơn khởi kiện đồng thời về việc giải quyết ly hôn và làm hồ sơ về việc giải quyết tranh chấp phân chia tài sản khi sống chung với gia đình.
Hồ sơ đơn phương xin ly hôn, giải quyết vấn đề tranh chấp tài sản, công sức đóng góp để duy trì, phát triển khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, bạn cần chuẩn bị những giấy tờ sau:
- Đơn đơn phương ly hôn: viết tay, đánh máy hoặc đến trực tiếp Tòa án xin mẫu đơn ly hôn;
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính;
- Bản sao sổ hộ khẩu của bạn có công chứng hoặc chứng thực;
- Bản sao Chứng minh nhân dân có công chứng hoặc chứng thực của người chồng;
- Bản sao giấy khai sinh của con có công chứng hoặc chứng thực;
- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
- Giấy tờ chứng minh về công sức đóng góp vào tài sản chung của gia đình như hợp đồng mua bán, hợp đồng xây dựng nhà cũng như các loại hợp đồng khác,...
- Giấy tờ chứng minh các tài sản gồm: ô tô, xe máy, ti vi, tủ lạnh, các vật dụng khác.
Sau khi chuẩn bị được đầy đủ các giấy tờ trên, bạn nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nơi chồng bạn cư trú có thể là đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú nếu có.
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện:
“2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.”
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn là 04 tháng. Trong thời gian chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán được phân công xét xử vụ án sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong trường hợp hòa giải thành, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:
“Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.”
Nếu trong trường hợp hai vợ chồng bạn cũng như các thành viên trong gia đình không chấp nhận sự thỏa thuận của các bên thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Lúc này, tùy thuộc vào bằng chứng bạn đưa ra cũng như bằng chứng mà chồng bạn cũng như các thành viên trong gia đình đưa ra thì Tòa án sẽ phân chia tài sản tương ứng cho từng cá nhân.
7. Con mới 3 tháng tuổi vợ chồng có quyền yêu cầu ly hôn không ?

Tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình, gọi: 1900.6162
Trả lời:
+) Về quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng:
Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."
Như vậy trong trường hợp của bạn, con của bạn dưới 36 tháng tuổi nên sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 82, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Vì vậy, chồng bạn có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con đến tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;
+) Về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con: Khoản 1, 2 và 3 Điều 84 Luật HNGĐ 2014 quy định:
"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên."
Như vậy, nếu có căn cứ cho rằng bạn không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, chồng của bạn có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Nếu con từ đủ 07 tuổi trở nên thì Tòa sẽ xem xét đến nguyện vọng của con.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê
8. Có được khởi kiện nhà chồng không muốn ly hôn?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn vấn đề của bạn như sau:
Thứ nhất, Việc gia đình bên nhà chồng bạn không muốn cưới nhưng đã có giấy đăng ký kết hôn và muốn ly hôn với bạn. Trong trường hợp này người đó không được phép ly hôn với bạn theo Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
"3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.". Do đó, việc người chồng muốn ly hôn với bạn là không được, trừ trường hợp bạn đang mang thai và muốn ly hôn với người chồng thì hoàn toàn được vì pháp luật không quy định điều này chi tiết.
Thứ hai, về việc nuôi con:
Theo Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định như sau:
"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."
Thứ ba , về vấn đề kiện nhà trai
Hiện tại việc 2 vợ chồng có quan hệ trước hôn nhân là vấn đề cá nhân của mỗi người với những thông tin bạn cung cấp chưa có quy định nào của pháp luật để bạn khởi kiện nhà trai, hơn nữa hiện tại 2 người đã đăng ký kết hôn việc kết hôn hay ly hôn là quyền của mỗi người. Hiện tại con của bạn của bạn dưới ba tuổi sẽ do người vợ trực tiếp nuôi, tài sản chung nếu có sẽ được chia đôi.
>> Tham khảo bài viết liên quan: Quyền nuôi dưỡng con sau khi ly hôn?
9. Thủ tục ly hôn khi mâu thuẫn gia đình kéo dài?

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Theo khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014:
"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn."
Theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."
Theo đó bạn có quyền ly hôn đơn phương.
Theo khoản 1 Điều 43 Luật hôn nhân và gia đinh năm 2014:
"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng."
-> Do đó để chứng minh tài sản đó là tài sản riêng của bạn thì bạn cần được ra thông tin đó là tài sản bạn được tặng cho riêng hoặc thừa kế riêng hoặc thông qua thỏa thuận giữa hai bạn.
Những điều cần lưu ý: Việc thỏa thuận chia tài chung trong thời kỳ hôn nhân cần phải lập thành văn bản và có công chứng.Nếu tài sản đó là quyền sử dụng đất thì bạn có thể chứng minh dựa thêm một căn cứ khác như thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
>> Tham khảo: Thủ tục ly hôn, đơn ly hôn, nộp đơn ly hôn ở đâu?
10. Ly hôn mà chồng không có mặt có giải quyết được không?
Luật sư phân tích:
Trường hợp bạn làm đơn thuận tình ly hôn thì bạn có thể nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi mà bạn hoặc chồng bạn cư trú (đăng ký thường trú hoặc tạm trú)
Trường hợp bạn làm đơn ly hôn đơn phương thì bạn phải nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi mà chồng bạn cư trú, bạn có thể gửi hồ sơ qua đường bưu điện, không cần thiết phải nộp trực tiếp.
Thưa luật sư, xin hỏi: Em có mua xe máy trả góp đăng ký tên em trong 12 tháng nhưng em mới trả được 5 tháng. Em với chồng em có vấn đề dẫn đến em phải ly thân, cũng có thê là ly hôn nhưng lúc em đi chồng em không cho mang xe đi và thảo thuận anh ấy đi xe, anh ấy sẽ trả hết tiền xe những tháng còn lại. Giờ anh ấy gọi điện bảo em tự trả tiền xe, em bảo xuống lấy xe về em sẽ tự trả tiền tiếp nhưng anh ấy không trả xe vậy em phải làm thế nào?
Vì xe này là tài sản mua hình thành trong quá trình hôn nhân và hiện nay hai bạn chưa ly hôn nên bạn có thể làm đơn khởi kiện lên Tòa án yêu cầu chồng bạn thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Nếu không trả tiền chồng bạn có nghĩa vụ trả xe cho bạn để xác nhận đó là tài sản riêng của bạn.
Hồ sơ khởi kiện gồm:
- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)
- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)
- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).
- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).
- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).
Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.
Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi đã kết hôn nhưng thời gian trước tôi đi công tác nên có tình cảm và có con với người con gái khác. Nay cô ấy đã sinh con nhưng vợ chồng tôi vẫn chưa ly hôn. Vây tôi muốn khai sinh và nhận con ngoài giá thú như thế nào?
Lúc này bạn cần có chứng cứ có giá trị pháp lý như giấy xét nghiệm ADN để chứng minh mối quan hệ cha con. Sau đó bạn làm thủ tục theo quy định tại Thông tư số 15/2015/TT-BTP:
"Điều 12. Kết hợp giải quyết việc đăng ký khai sinh và nhận cha, mẹ, con
Khi đăng ký khai sinh cho trẻ em mà có người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch kết hợp giải quyết thủ tục đăng ký khai sinh và thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau:
1. Hồ sơ gồm:
a) Tờ khai đăng ký khai sinh và Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định;
b) Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật hộ tịch;
c) Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 11 của Thông tư này.
2. Các giấy tờ khác, trình tự giải quyết được thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 16 và Điều 25 của Luật hộ tịch trong trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã; theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 36 và Điều 44 của Luật hộ tịch trong trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Nội dung đăng ký khai sinh xác định theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP. Giấy khai sinh và Trích lục đăng ký nhận cha, mẹ, con được cấp đồng thời cho người yêu cầu."
Thưa luật sư, xin hỏi: Bọn em chưa sống li thân thì có phải ghi vào đơn không ạ ?
Ly thân không phải là một thủ tục bắt buộc để tiến hành ly hôn nên bạn không cần thiết phải ghi nội dung này vào đơn ly hôn.
Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi đã tham khảo qua đơn thuận tình li hôn của luật sư, tôi có chút thắc mắc là không thấy mục ghi công việc của vợ (chồng) vậy khi làm đơn mình có cần bổ sung thêm không? Tôi có thể đánh máy in dơn này ra hay phải viết tay?
Bạn có thể bổ sung hoặc không bổ sung thông tin này cũng được, pháp luật không quy định. Bạn đánh máy hay viết tay đơn ly hôn đều được.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
11. Ly hôn do vợ chồng không hợp nhau, đã sống ly thân ?
Luật sư trả lời:
Thứ nhất: Chị chưa nói rõ là chị với chồng có thuận tình ly hôn hay không thuận tình ly hôn. Căn cứ vào ý chí của chị và chồng chị thì Luật sư mới có thể tư vấn cho chị chính xác được. Vậy nên trong trường hợp này Luật sư xin chia ra thành hai trường hợp như sau:
> Thuận tình ly hôn: trường hợp này anh chị sẽ có một đơn yêu cầu giải quyết thuận tình ly hôn, trong đơn có thỏa thuận được về quyền nuôi con, chia tài sản, nghĩa vụ thanh toán nợ chung... và được chính quyền địa phương ở xã xác nhận . Rồi gửi đơn lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi anh chị cư trú để được giải quyết trong thời gian 15 ngày. Mức án phí sẽ là 300.000 đồng.
> Ly hôn đơn phương: tức là trường hợp chồng chị không đồng ý ly hôn thì chị có quyền gửi đơn ly hôn đơn phương lên tòa án nhân dân cấp huyện nơi anh chị cư trú. Nếu hồ sơ ly hôn đã đủ thì trong vòng 15 ngày thì tòa án sẽ gọi cả hai anh chị cùng đến tòa để tiến hành hòa giải, sau hai lần hòa giải mà không thành thì trong vòng một tháng kể từ lần hòa giải thứ hai tòa sẽ ra quyết định xét xử. Việc xét xử sẽ quyết định về tài sản, con cái ... và các nội dung liên quan. Căn cứ vào độ tuổi của con cái nếu dưới 36 tháng tuổi mẹ sẽ có quyền nuôi, còn trên 36 tháng tuổi đến dưới 9 tuổi thì căn cứ vào khả năng chăm sóc con cái thì tòa sẽ ra quyết định cha hoặc mẹ là người nuôi con, nếu con từ 9 tuổi trở lên phải hỏi ý kiến trẻ muốn ở với ai thì tòa sẽ căn cứ để đưa ra quyết định. Mức án phí sẽ là 300.000 đồng cộng với phí phân chia tài sản, căn cứ theo giá trị tài sản sẽ có mức phí cụ thể kèm theo.
Thứ hai: Sau ly hôn người không được quyền nuôi con thì sau này vẫn có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố chuyển quyền nuôi con cho người kia trong trường hợp người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ không đủ điều kiện kinh tế, không có thời gian chăm sóc trẻ hoặc một số lý do khác như bị đánh đập, thiếu quan tâm...Vậy nên chị không cần phải yêu cầu anh nhà viết giấy gì cả, vì giấy như vậy cũng không có giá trị pháp lý khi ra pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con thì phải căn cứ vào mức sống thực tế có mức cấp dưỡng phù hợp theo quy định pháp luật.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
12. Trách nhiệm nuôi con và trả nợ chung sau khi ly hôn?
Tuy nhiên, sau khi em sinh con, khi ấy em mới nói chồng phải có trách nhiệm cùng nuôi con. Nhưng anh ấy không thèm trả lời và đả động gì đến việc ấy. Sau hôm đó, em quyết định ly hôn. Về con chung, chúng em có 2 con trai, 1 cháu sinh tháng 5/2009 và 1 cháu sinh tháng 01/2015. Về tài sản chung, chúng em có 1 căn nhà 3 tầng với diện tích sử dụng 200m2. Anh ấy là lái xe và có 2 cái xe cẩu hàng hóa, 1 xe loại 2 tấn và 1 xe loại 3,5 tấn cùng 1 con robot tự hành để cẩu hàng hóa (cẩu đá mỹ nghệ). Sau khi xây nhà xong, chúng em còn nợ rất nhiều. Riêng bạn bè, người thân của gia đình bên ngoại nhà em cũng còn nợ hơn 300 triệu. Và nợ ngân hàng 500 triệu nữa (Thực tế số tiền nợ ngân hàng là do anh ấy vay để mua xe ô tô và rô bốt cẩu tự hành, nhưng trên giấy tờ ngân hàng ghi cho vay là vay xây nhà). Những tài sản như nhà cửa, xe ô tô đều được mua trong thời gian chúng em chung sống với nhau.
Vậy với số nợ mà 2 vợ chồng em vay thì sẽ được tòa án giải quyết như thế nào? Với 2 đứa con thì em nhận nuôi. Khi em nhận nuôi cả 2 đứa mà được Tòa đồng ý thì trách nhiệm nuôi dưỡng hàng tháng của anh ấy với con là bao nhiêu?
Rất mong nhận được sự tư vấn giúp đỡ của Quý Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình, gọi:1900.6162
Trả lời:
1. Về việc ly hôn:
Bạn có thể theo 2 trường hợp dưới đây theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 :
Điều 55. Thuận tình ly hôn
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn
Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.
2. Chia tài sản chung của hai vợ chồng và các khoản nợ chung
Về mặt pháp lý, sau khi ly hôn, 2 người không còn là vợ chồng của nhau nữa nhưng những tài sản mà vợ chồng bạn yêu cầu tòa án giải quyết và kể cả các khoản nợ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn được hiểu là tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng nên việc chia tài sản chung sau ly hôn cũng áp dụng tương tự các quy định của pháp luật như chia tài sản khi ly hôn.
Cụ thể, theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì việc chia tài sản phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.
Như vậy, nếu hai bạn không thỏa thuận được về chia tài sản thì tài sản chung (bao gồm cả nợ chung) của vợ chồng được chia đôi, tuy nhiên có xét đến các yếu tố được quy định trong điều luật nói trên.
3. Quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng
Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Như vậy, nếu Tòa đồng ý cho bạn được quyền trực tiếp nuôi 2 con thì chồng bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, mức cấp dưỡng cho con do 2 bạn tự thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ chiếu theo điều kiện hoàn cảnh của các bên để quyết định mức cấp dưỡng.
13. Chia tài sản khi ly hôn chồng đứng tên trên sổ đỏ?
Luật sư tư vấn:
Tài sản chung của vợ chồng
Căn cứ tại khoản 1 điều 33 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội có quy định như sau:
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Về việc chỉ có bố bạn đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung, quy định:
“1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác…”
Như vậy, về nguyên tắc vợ và chồng có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất, song nếu các bên có thỏa thuận về việc cho 1 người đứng tên trong giấy chứng nhận thì tài sản này vẫn xác định là tài sản chung. Do vậy, tuy chỉ có bố bạn đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đây vẫn được xác định là tài sản chung vợ chồng và theo nguyên tắc thì tài sản sẽ được chia đôi.
Căn cứ Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:
"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác...."
Như vậy tài sản chung sẽ được chia theo thỏa thuận của các bên , nếu không thỏa thuận được thì về nguyên tắc chia đôi có tính đến yếu tố như lỗi của bên trong việc vi phạm chế độ vợ chồng, con chưa thành niên...
14. Chia tài sản chung khi ly hôn như thế nào?
Luật sư phân tích:
Trường hợp này ban đầu căn nhà chung này là tài sản riêng của người kia, nhưng khi cho bạn cùng đứng tên tức là đã nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của cả hai vợ chồng nên tài sản sẽ được chia cho hai người. Tỷ lệ chia theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng."
Thưa luật sư, xin hỏi: Cho em hỏi khi em làm đơn ly hôn mà tài sản mua nhà mà không có đất đứng tên em thì ghi như thế nào và sẽ được giải quyết ra sao?
=> Tài sản hình thành trong quá trình hôn nhân thì được coi là tài sản chung của cả 2 vợ chồng trừ khi có bằng chứng chứng minh 1 bên không có công sức đóng góp hoặc là tài sản được cho, tặng riêng một bên. Nếu là tài sản chung sẽ được chia đều cho hai bên.
Thưa luật sư, xin hỏi: Năm nay em 22 tuổi. Kết hôn được 3 năm và đã có 1 cháu gái cháu sinh năm 2014 chồng em quê ở HN. Chồng em hay nhậu nhẹt và hay vũ phu với em. Em muốn xin ly hôn nhưng em đăng ký giấy kết hôn ở HN rồi vào Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn. Giờ em muốn ly hôn thì gửi đơn ở BP được không ạ sổ hộ khẩu em lúc ở cùng gia đình là ở BP nhưng đã cắt khẩu về HN rồi và có sổ hộ khẩu riêng rồi ạ và em có được quyền nuôi cháu không ạ?
=> Con bạn sinh năm 2014 thì đến hiện nay con bạn chưa đủ 36 tháng tuổi nên bạn là người được quyền trực tiếp nuôi con.
Trường hợp này nếu bạn ly hôn thuận tình thì khi bạn đã cắt khẩu ra HN nhưng nếu bạn có đăng ký tạm trú tại BP thì bạn vẫn có thể nợp đơn ly hôn tại BP.
Nếu bạn ly hôn đơn phương thì bạn phải nộp hồ sơ yêu cầu ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi mà chồng bạn cư trú.
Thưa luật sư, xin hỏi: 1. Đơn ly hôn hiện tại nếu tôi viết sẽ theo form mới nhất hay là bản viết tay ( vì tôi không phải ở Hà Nội mà ở tỉnh khác?. 2. Tôi đăng ký kết hôn tại huyện nơi gia đình tôi tôi đăng ký hộ khẩu thường trú, vậy khi tôi ly hôn thì có phải tòa án nhân dân huyện nơi tôi cư trú sẽ giái quyết việc ly hôn không. 3. Nếu trong trường hợp vợ tôi không ký đơn ly hôn mà tôi đơn phương ly hôn thì có thể giải quyết được không và thủ tục có nhanh không ?
1. Mẫu đơn ly hôn phụ thuộc vào từng địa phương nơi mà bạn nộp hồ sơ ly hôn có yêu cầu cụ thể hay không.
Bạn có thể lên Tòa án nơi mà bạn định nộp hồ sơ để hỏi mua mẫu đơn, nếu không có quy định về mẫu đơn cụ thể bạn có thể áp dụng mẫu đơn ly hôn mà chúng tôi cung cấp.
2. Trường hợp bạn ly hôn thuận tình thì bạn có thể nộp đơn yêu cầu ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn hoặc chồng bạn cư trú đều được.
Trường hợp bạn ly hôn đơn phương thì bạn phải nộp đơn yêu cầu ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đăng ký thường trú hoặc tạm trú.
Thưa luật sư, xin hỏi: Bố mẹ em sinh được 4 người con,em là con út trong gia đình,trên em có 2 anh trai và 1 chị gái. 4 anh em đã lập gia đình va ra ở riêng hết rồi. Trong thời gian chung sống vơi nhau trên mảnh đất ông bà nội mua cho thì bố mẹ em mua đất và xây nhà để 2 anh trai em ra ở riêng,nhưng số tiền mua đất và làm nhà ay là do 2 anh trai em gửi về từ nươc ngoài (do 2 anh đi xuất khẩu lao động). 2 miếng đất mà 2 anh trai em ở thì sổ đỏ vẫn đứng tên bố em.Trong thời gian nay 2 ông bà hay xảy ra chuyện cãi vã nhau. Em muốn hỏi là nếu bố mẹ em ma ly hôn thi tài sản của gia đình em phân chia như thế nào ? (có nghĩa là hiện tại bố mẹ em đang có 3 miếng đất để sử dụng: 1 miếng là do ông bà nội mua nhưng bố mẹ em xây nhà cửa,bếp ...2 miếng mà 2 anh trai đang ở là bố mẹ em mua và làm nhà cho 2 anh ah.Đồ đạc trong cả 3 ngoi nhà đầy đủ hết toàn bộ)
=> Nếu hai anh trai bạn chứng minh đây là tài sản riêng của 2 anh trai, do 2 anh trai đứng tên mảnh đất này thì tài sản chung của bố mẹ bạn chỉ gồm 1 miếng đất ông bà mua.
Nếu mảnh đất này 2 anh trai đã cho bố mẹ sử dụng thì tài sản chung của bố mẹ có 3 mảnh đất. Nếu bố mẹ ly hôn sẽ được chia đều cho hai bên.
Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi hiện nay 24 tuổi. cha mẹ tôi ly hôn thời điểm đã có tôi và em gái tôi, theo toà xử tôi theo cha, em gái tôi theo mẹ, nhà cửa đất đai thì đã chia đôi. Cha tôi lấy vợ hai và xây cất nhà sinh sống ở chỗ khác, hiện đã sinh ra thêm ba người con gái. Tôi phải ở nhà mẹ ruột ngay sau thời gian ly hôn đến nay đã 12-13 năm, Về phần căn nhà sau khi chia tài sản ly hôn đã cho chú tôi. Hiện tại mẹ tôi bán nhà thì cả bên nội cha lẫn chú đều giữ lại tài sản của mình, bảo phần tôi là 1/2 nhà mẹ tôi bán. Xin hỏi luật sư tôi có những quyền lợi gì đúng theo pháp luật trong trường hợp của bản thân tôi.
=> Trường hợp của bạn hiện nay bạn đã 24 tuổi, cha mẹ bạn vẫn còn sống thì việc cha mẹ bạn sang tên căn nhà hay mảnh đất cho bạn thì bạn mới được hưởng. Nếu không có giấy tờ, tài liệu về việc sang tên thì bạn không được hưởng tài sản trong trường hợp này.
15. Tài sản mang tên vợ ly hôn có được chia không?
>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162
Trả lời:
Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung:
"1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này."
Khoản 3 điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Như vậy, cho dù sổ nhà đất đứng tên chị dâu bạn nhưng nếu chị dâu bạn không chứng minh được đó là tài sản riêng của chị dâu bạn thì pháp luật vẫn quy định đó là tài sản chung và khi ly hôn thì tài sản chung sẽ được chia đôi. Ví dụ: nếu chị dâu chứng minh được số tiền mua nhà là của riêng chị có trước khi kết hôn thì đó là tài sản riêng của chị dâu bạn
>> Tham khảo bài viết liên quan: Xác định tài sản chung và chia tài sản chung khi ly hôn?
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.