- 1. Cesare di Beccaria và tác phẩm "Về tội ác và hình phạt"
- 2. Mười nguyên tắc lớn - nền tảng cho chính sách hình sự tương lai
- 3. Tại sao Beccaria lại đề xuất được một chính sách hình sự tiến bộ như vậy cho tương lai?
- 4. Các nguyên tắc do Beccaria đề xướng được cả thế giới đón nhận
- 5. Nguyên tắc suy đoán vô tội chính thức được đề xuất và nội dung của nó được cụ thể hoá
1. Cesare di Beccaria và tác phẩm "Về tội ác và hình phạt"
Cesare Bonesana di Beccaria, Hầu tước của Gualdrasco và Villareggio (15 tháng 3 năm 1738 - 28 tháng 11 năm 1794) là một nhà tội phạm học người Ý, luật gia, triết gia và chính trị gia, người được coi là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của Thời đại Khai sáng. Ông được nhớ đến nhiều với luận thuyết Về Tội ác và Trừng phạt (1764), lên án tra tấn và hình phạt tử hình.
Cesare Beccaria nổi tiếng với cuốn sách về tội ác và hình phạt. Luận thuyết của Beccaria đánh dấu đỉnh cao của thời kỳ Khai sáng Milan. Trong đó, Beccaria đưa ra một số lập luận hiện đại đầu tiên chống lại án tử hình. Luận của ông cũng là công việc đầy đủ đầu tiên của sự nghiên cứu chế độ lao tù, ủng hộ cải cách hệ thống pháp luật hình sự. Cuốn sách là công trình toàn diện đầu tiên đề cập đến vấn đề cải cách tội phạm và đề xuất rằng tư pháp hình sự phải tuân theo các nguyên tắc hợp lý.
Tác phẩm ngắn gọn không ngừng phản đối việc tra tấn để nhận tội, buộc tội bí mật, quyền lực tùy ý độc đoán của thẩm phán, sự thiếu nhất quán và bất bình đẳng trong việc kết án, sử dụng các mối liên hệ cá nhân để có được bản án nhẹ hơn, và việc sử dụng hình phạt tử hình đối với các tội nghiêm trọng và thậm chí là nhẹ.
2. Mười nguyên tắc lớn - nền tảng cho chính sách hình sự tương lai
Vào năm 1764, nhà cải cách pháp luật hình sự người Ý, Tiến sĩ Luật học Cesare di Beccaria cho xuất bản một cuốn sách nhỏ với tên đề "Về tội phạm và hình phạt" (Dei Delitti e delle Pene). Cuốn sách chỉ vẻn vẹn 100 trang, nhưng chứa đựng ít nhất 10 nguyên tắc lớn làm nền tảng cho chính sách hình sự của tương lai, chính sách hình sự tiến bộ, dân chủ, bảo vệ quyền con người, chống lại kiểu tố tụng tra xét (Inquysition), tức là xét hỏi kèm tra tấn dã man.
Mười nguyên tắc đó là:
Thứ nhất: Cấm chuyên quyền của cảnh sát (chương XI).
Thứ hai: Thẩm phán độc lập, chỉ phụ thuộc vào pháp luật (chương III).
Thứ ba: Rút ngắn hợp lý quá trình tố tụng: đối với tội phạm, hình phạt càng được thi hành nhanh bao nhiêu thì càng có tác dụng và càng có công lý bấy nhiêu (chương XIX).
Thứ tư: Bảo đảm đủ thời gian cho việc bào chữa (chương XXX).
Thứ năm: Xét xử công khai, huỷ bỏ cáo buộc bí mật (chương XV)
Thứ sáu: Suy đoán vô tội cho nghi phạm khi tội của anh ta không chứng minh được (chương XVI).
Thứ bảy: Loại bỏ mục đích gây sợ hãi của hình phạt đối với người phạm tội và công chúng (chương XII).
Thứ tám: Loại bỏ tra tấn và các loại hình phạt dã man: gây đau đớn, hành hạ không phải là nhiệm vụ của hình phạt (chương XII).
Thứ chín: Thay thế hình phạt tử hình bằng tù chung thân (chương XXVIII).
Thứ mười: Ưu tiên chính sách hình sự phòng ngừa: phòng tốt hơn chông và phòng bằng giáo dục là trên hết (chương XII và XIV).
3. Tại sao Beccaria lại đề xuất được một chính sách hình sự tiến bộ như vậy cho tương lai?
Có thể giải thích thông qua hai sự kiện sau đây:
Một là, "tại thành phố quê hương (Mailand) của Beccaria ngày đó chỉ có số dân là 120.000 người, mà trong thời gian từ năm 1741 đến 1762 có tối hơn 77.000 lượt người bị kết án tù hoặc tử hình. Có ngày trong thành phố có tới 6 án tử hình được thực hiện. Pháp luật hình sự của Anh quốc ngày đó cũng có không ít hơn 200 tội danh với hình phạt tử hình".
Hai là, những tư tưởng tự do, bình quyền, bác ái của phong trào Khai sáng có tác động mạnh mẽ đến nhận thức của của Beccaria và đặc biệt là tư tưởng khế ước xã hội của Jean - Jacques Rousseau (1712 - 1778), người cùng thời với ông.
4. Các nguyên tắc do Beccaria đề xướng được cả thế giới đón nhận
Thực tế lịch sử châu Âu và thế giới đã cho thấy, chính sách hình sự mới, chính sách hình sự với các nguyên tắc do Beccaria đề xướng vào năm 1764 đã được cả thế giới đón nhận và biến nó thành hiện thực trong pháp luật tố tụng hình sự cũng như trong đời sống pháp lý hình sự mà châu Âu là xuất phát điểm từ cuối thế kỷ thứ 18 cho đến nay.
Tư tưởng của Beccaria mà trước hết là nguyên tắc suy đoán vô tội (SĐVT) đã đi vào Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Cách mạng (tư sản) Pháp 1789 - 1799. Tuyên ngôn này đã ghi nhận: "Vì rằng mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi có bản án của Tòa án tuyên người đó là có tội, nên trong trường hợp cần phải bắt giam người đó thì mọi sự nghiêm khắc quá mức cần thiết để bảo đảm sự có mặt của người đó tại toà án phải bị trừng phạt.
Vì không thể có bản gốc của cuốn "Về tội phạm và hình phạt của Beccaria, nên xem đoạn trích dẫn trên là nội dung mang tính chất cội nguồn của nguyên tắc SĐVT (thế kỷ XVIII), và như vậy, nguyên tắc SĐVT phải được nhìn nhận trong mối liên hệ chặt chẽ với 9 nguyên tắc còn lại mối có thể tạo thành" Cơ sở hạ tầng pháp lý cần thiết cho tư pháp hình sự tiến bộ thời đó (thời Beccaria), tức là chống lại những biện pháp cưỡng chế hà khắc, vô nhân đạo của tố tụng hình sự Inquystion (Tra xét = xét hỏi kèm tra tấn).
Cùng với thời gian, cùng với sự phát triển của dân chủ và văn minh nhân loại, nguyên tắc SĐVT cũng được trang bị những nội dung mới, tức là hoàn thiện hoá ở thế kỷ XIX và XX.
Bằng chứng có thể thấy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một loạt các Bang của Đức đã xây dựng bản Hiến pháp của mình, trong đó nguyên tắc SĐVT đã được ghi nhận là một quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Tại các bản Hiến pháp này (được xây dựng vào năm 1946, 1947), nội dung dân chủ và vị nhân quyền được cụ thể hoá.
Trong bản Hiến pháp của Bang Hessen, công bố ngày 1 tháng 12 năm 1946, nguyên tắc SĐVT được ghi nhận tại Điều 20 (Nguyên tắc chung của tư pháp) có nội dung như sau:
- Mọi người đều có quyền được xét xử hợp pháp (không ai được phép truất quyền được xét xử bởi người thẩm phán hợp pháp của người đó).
- Các Toà án ngoại lệ và Toà án đặc biệt đểu bị loại trừ.
- Bất kỳ ai cũng là người vô tội cho đến khi người đó bị kết án bỏi một bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo đúng thủ tục pháp luật.
- Quyền bào chữa không bị hạn chế ở bất kỳ thời điểm nào.
Trong bản Hiến pháp của Bang Saarland, công bô' ngày 15 tháng 12 năm 1947, nguyên tắc SĐVT được ghi nhận tại Điều 14 (Quyền cơ bản trong tố tụng) có những nội dung sau:
- Không ai được phép tước mất người thẩm phán hợp pháp của anh ta (quyền được xét xử hợp pháp).
- Mọi người đều vô tội cho đến khi bị một Toà án có thẩm quyền tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật là có tội.
- Mọi người đều có quyền bào chữa trong mọi thủ tục tố tụng trước công quyền.
5. Nguyên tắc suy đoán vô tội chính thức được đề xuất và nội dung của nó được cụ thể hoá
Đến năm 1948, khi bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc được công bố, tức là hơn một thế kỷ rưỡi sau, nguyên tắc SĐVT được chính thức khẳng định với một nội dung mới tại khoản 1 Điều 11 như sau: “Bất kỳ người nào bị cáo buộc thực hiện một hành vi phạm tội đều được xem là vô tội đến khi tội của người đó được chứng minh theo thủ tục luật định trong một phiên tòa công khai với sự bảo đảm cho người đó tất cả các khả năng cần thiết cho việc bào chữa.
Như vậy, từ năm 1948, trên bình diện quốc tế, nguyên tắc SĐVT đã chính thức được đề xuất và nội dung của nó có thể được cụ thể hoá ở những điểm tối thiểu sau đây:
Thứ nhất, mỗi người dân đều có tình trạng pháp lý vô tội. Đây là một bảo đảm an toàn pháp lý cho mọi công dân;
Thứ hai, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tức là những người bị buộc tội cũng được hưởng tình trạng pháp lý vô tội có điều kiện. Nội dung này có các ý nghĩa như sau:
- Cho phép pháp luật hình sự quy định những biện pháp ngăn chặn và điều tra, tức là những điều kiện tối thiểu cần thiết cho thủ tục chứng minh tội phạm;
- Khi thực hiện những biện pháp cần thiết, theo luật định này, các chức danh tiến hành tố tụng hình sự phải đối xử với nghi phạm như đôi với người vô tội;
- Mọi trường hợp bị oan đều phải được bồi thường;
- Mọi hành vi tra tấn, ép cung, nhục hình, tức là mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của nghi phạm đều bị cấm và bị xử lý theo pháp luật;
- Các nghi phạm (người bị buộc tội) đều có quyền khiếu nại, tố cáo.
Thứ ba, nghi phạm có quyền nhưng không buộc phải chứng minh sự vô tội của mình. Chứng minh có tội và vô tội là nhiệm vụ của Nhà nước mà đại diện là các chức danh tư pháp tiến hành tố tụng. Trong quá trình này, mọi hoài nghi về lỗi của nghi phạm phải được giải thích và phán xét có lợi cho nghi phạm (người bị buộc tội);
Thứ tư, chỉ có Toà án mới có quyền phán xét về tình trạng pháp lý của người bị buộc tội và việc này phải được tiến hành bằng một phiên tòa công khai mà tại đó bên buộc tội và bên gỡ tội đều có vai trò và vị trí quan trọng ngang nhau trong việc yêu cầu và đưa ra chứng cứ để xác định sự thật của vụ án;
Thứ năm, người bị buộc tội có quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa. Việc bào chữa phải được bảo đảm đầy đủ các điều kiện cần thiết, từ việc tiếp cận hồ sơ vụ án, gặp gỡ người bị buộc tội, tham gia xét hỏi, ký kết các biên bản (là nguồn chứng cứ) cho đến việc đưa ra chứng cứ, có đủ thời gian chuẩn bị và thời gian bào chữa tại phiên tòa;
Thứ sáu, người bị buộc tội được bảo đảm quyền kháng cáo của mình, tức là tòa án phải được tổ chức theo chế độ hai cấp xét xử;
Thứ bảy, SĐVT là một quá trình đồng hành với quá trình tranh tụng (Klageerwiderung);
Thứ tám, SĐVT là một nguyên tắc của tổ tụng hình sự, cho nên nó phải được tôn trọng trong mọi hoạt động tư pháp hình sự. SĐVT còn là một quyền, quyền được SĐVT, nên nó phải được tất cả mọi người tôn trọng. Nói cách khác, tôn trọng quyền được SĐVT của người bị buộc tội là nghĩa vụ của tất cả mọi người, đặc biệt là các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, các tổ chức, các cá nhân làm công tác thông tin, tuyên truyền, báo chí, phát thanh, truyền hình.