1. Bình đẳng giới ở Việt Nam được quan tâm từ rất sớm

Phụ nữ cũng là một đối tượng được tính đến trong nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Bình đẳng giới được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra từ rất sớm như là một mục tiêu quan trọng của cuộc cách mạng giải phóng con người, giải phóng phụ nữ, chủ trương này không những được hiến định hóa ngay từ 1946 mà còn được thể hiện rất đầy đủ trong các bộ luật (Luật Dân sự, Luật Bình đẳng giới), Nghị quyết của Bộ Chính trị (04/TW 1993), Chỉ thị của Ban bí thư (37-CT/TW - 1994), Nghị định Chính phủ (1998). Vì vậy nhìn chung, phụ nữ Việt Nam khá bình đẳng với nam giới trong công việc và các vị trí xã hội nhờ chính sách ưu tiên nữ giới, cân bằng giới của Nhà nước. Hơn nữa, từ khi có chính sách đổi mới, rất nhiều phụ nữ đã tìm được chỗ đứng mới của mình: thành công trong các doanh nghiệp, các tổ chức tư nhân. Phụ nữ chiếm tỷ lệ khá cao trong các tổ chức dân sự, tỷ lệ nữ giám đốc trong các đơn vị dịch vụ bán công, không thuộc nhà nước và các dịch vụ công ở TP. Hồ Chí Minh rất cao (56-64%).

2. Các tổ chức xã hội và vấn đề bình đẳng giới

Các tổ chức xã hội dân sự rất mạnh mẽ trong việc thúc đẩy các vấn đề bình đẳng giới, nổi bật là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khá thành công trong việc thúc đẩy bình đẳng cho phụ nữ. Bên cạnh đó, ủy ban Quốc gia vì Sự phát triển của phụ nữ cũng phối hợp hoạt động tạo nên những hiệu quả đáng kể, như đem lại nhiều quyền cho phụ nữ hơn so với các nước đang phát triển khác trong khu vực và trên thế giới, ủy ban đã góp phần vào việc đưa ra đề cương chiến lược phục vụ Hội nghị Phụ nữ quốc tế của Liên hợp quốc: đầu những năm 2000 đã tiến hành những công việc về “giới trong chính sách công”; từ năm 2004, ủy ban đã xuất bản sổ tay hướng dẫn các vấn đề cơ bản về giới trong chính sách công, chỉ rõ ràng giới đã trở thành một vấn đề quan tâm chính.

Vối sự hợp tác và trợ giúp của các tổ chức phi chính phủ (NGO) quốc tế, các chương trình tăng cường năng lực và đào tạo về giới cho cả nam và nữ được tiến hành khá thường xuyên với những sáng kiến do NGO Việt Nam lựa chọn, như chương trình truyền thanh hỗ trợ giới trẻ trong thành phố, xuất bản các ấn phẩm có nhiều mục tư vấn được nhiều người quan tâm (ví dụ, chủ đề ngăn ngừa “lạm dụng tình dục nơi công sở”).

3. Nguyên tắc bình đẳng giới chưa được bảo đảm

Với những nỗ lực trong chính sách và nỗ lực của chính phủ cũng như hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự, sự tiến bộ của phụ nữ và việc tôn trọng, thực hiện các nguyên tắc bình đẳng giới được nâng lên một bước đáng kể, sống những tồn tại do ảnh hưởng của truyền thống “trọng nam khinh nữ”, do hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống khó khăn... không phải đã giải quyết được triệt để: những thực tế bất công vẫn tồn tại trong xã hội, ví dụ phụ nữ không có quyền thừa kế đất ngang bằng với nam giới, vai trò chủ động trên chính trường ít hơn rất nhiều so với nam giới, quan niệm về chức năng chính của phụ nữ là chăm sóc gia đình và con cái vẫn phổ biến khá tuyệt đối trong xã hội ngay cả trong tâm thức của chính phụ nữ. Hơn thế nữa, ở những nơi như vùng nông thôn vẫn còn phổ biến quan niệm coi phụ nữ là tầng lớp dưới trong xã hội. Kết quả khảo sát có sự tham gia của cộng đồng về phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em theo cách tiếp cận quyền con người do nhóm nghiên cứu của Viện KHXH vùng Nam Bộ tiến hành tại quận Gò Vấp cho thấy, ngoài số em bị lừa bán sang Campuchia làm nghề mại dâm có cả những em tự nguyện trốn sang với sự đồng tình của gia đình, chấp nhận như một hình thức mưu sinh giúp đỡ gia đình. Có một vụ việc rất đáng buồn ở TP. Hồ Chí Minh là có tới 167 cô gái tự nguyện tập trung lại cho 6 người Hàn Quốc chọn làm vợ.

4. Tỷ lệ tham chính của phụ nữ Việt Nam

So với một số nước, tỷ lệ tham chính của phụ nữ Việt Nam có thể cao hơn song so với nam giới thì vẫn rất khiêm tốn. Tỷ lệ nữ ở vị trí lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước thấp hơn đáng kể (27%) so với tỷ lệ nữ chiếm vị trí lãnh đạo các tổ chức dân sự hoặc cơ quan tư nhân (60%). Tỷ lệ phụ nữ trong Ban Chấp hành Trung ương dưới 10% và giảm dần trong những năm gần đây. Phụ nữ trong Ban Chấp hành tỉnh ủy qua 4 khoá gần đây chỉ tăng 2%, tỷ lệ phụ nữ giữ vị trí bí thư Đảng ủy các cấp địa phương dưới 5% và ủy viên thường vụ dưới 7%. Tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội trong 4 khoá gần đây tăng 9,5% nhưng tỷ lệ nữ là Chủ nhiệm ủy ban chỉ đạt 25%, ủy viên thường vụ đạt 22,2%. về tỷ lệ nữ trong cơ quan quản lý nhà nước: Bộ trưởng: 12,5%; Thứ trưởng: 9,15%; Vụ trưởng: 12,2%; Chủ tịch ủy ban nhân dân tĩnh: 3,13%. Như vậy, tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, ra quyết định còn thấp so với sự tăng lên về số lượng và chất lượng của lao động nữ (chiếm 48% tổng số lao động), chỉ đạt dưới 25% trong các cơ quan tư nhân và dưới 15% trong các cấp ủy đảng và cơ quan nhà nước. Sự tham gia của phụ nữ còn mang tính hình thức vì hạn chế về năng lực do không được đào tạo mà chỉ do chính sách cơ cấu thành phần, vì vậy cũng không hoàn thành tốt chức năng đại diện trong xây dựng luật pháp, chính sách và tham gia quyết định các chủ trương, biện pháp lớn của sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và địa phương. Tình trạng này dẫn đến việc phụ nữ ít có thực quyền trong bộ máy lãnh đạo và quyền lực, thường chỉ giữ vị trí cấp phó, tỷ lệ giữ chức cao nhất trong hệ thống Đảng và hội đồng, ủy ban nhân dân chưa đầy 5%\

Ngoài ra, thêm vào hiện tượng xã hội đã có từ lâu nhưng chưa chấm dứt được là nạn bạo hành trong gia đình đối với phụ nữ, một vấn đề mối đang ngày càng có chiều hướng tăng lên là nạn buôn bán phụ nữ bất hợp pháp, một số trường hợp phụ nữ trong số những người lao động di cư ra nước ngoài bị đối xử tàn tệ được các phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin.

5. Một số giải pháp nâng cao bình đẳng giới

Nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế; phá vỡ rào cản trong công tác bình đẳng giới và “Đạt được bình đẳng giới; tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái" qua 08 mục tiêu cụ thể được ghi nhận tại Tại Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững như: Giảm thiểu, tiến tới chấm dứt các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái trong mọi lĩnh vực và ở mọi nơi; Giảm đáng kể mọi hình thức bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái nơi công cộng hoặc nơi riêng tư, bao gồm cả hình thức bóc lột tình dục và các hình thức bóc lột khác; Đảm bảo sự tham gia đầy đủ, hiệu quả và cơ hội bình đẳng tham gia lãnh đạo của phụ nữ ở tất cả các cấp hoạch định chính sách trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội;… cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:
Trước hết phải nâng cao nhận thức về bình đẳng giới:
Hiện nay, tình trạng "trọng nam, khinh nữ" vẫn đang là một hệ luỵ tư tưởng lớn, không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của nữ giới mà còn hạn chế sự phát triển của xã hội. Chỉ khi thay đổi được nhận thức, xoá bỏ định kiến về giới thì mới thay đổi được cách hành xử. Chính vì vậy, cả nam và nữ đều phải thay đổi nhận thức, xoá bỏ định kiến phân biệt giới và để nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cần thực hiện các biện pháp cụ thể như: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bình đẳng giới; Tiến đến xoá bỏ dần những phong tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời có mang định kiến về giới; Thường xuyên tổ chức các buổi toạ đàm, sinh hoạt, nói chuyện về bình đẳng giới trong các cơ quan, đơn vị, trong các khu dân cư.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện, đẩy mạnh thực hiện các quy định của pháp luật, các chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới:
Cần thay đổi các quy định hiện hành còn chưa phù hợp, hạn chế bình đẳng giới. Cụ thể Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tại Khoản1, Điều 71 quy định rõ là: “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên”. Nhưng Khoản 4 Điều 2 về nguyên tắc cơ bản trong việc thực hiện chế độ hôn nhân gia đình vẫn tiếp tục duy trì khuôn mẫu giới bởi quy định: “giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình”. Quy định này không khác nào khẳng định trách nhiệm nuôi dạy con cái vẫn thuộc về người mẹ, kế hoạch hoá gia đình chủ yếu vẫn là trách nhiệm của người vợ. Nói như vậy để thấy rằng cần điều chỉnh những quy định chưa phù hợp và cần xoá bỏ khuôn mẫu giới ngay tại các văn bản quy phạm pháp luật.
Lồng ghép công tác bình đẳng giới vào nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và chương trình phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương. Xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm, phân biệt giới để răn đe trong xã hội. Các trường hợp này cần phổ biến rộng rãi bằng nhiều hình thức như: tổ chức các phiên toà lưu động; tuyên truyền miệng tại tổ dân phố, các khu dân cư; lồng ghép vào các chương trình phát thanh, truyền hình địa phương để tạo hiệu ứng lan toả tốt nhất đủ sức cảnh báo, răn đe để người dân biết và không vi phạm.
Thứ ba, tích cực thu hẹp khoảng cách về giới tại nơi làm việc:
Tuy pháp luật đã có quy định cụ thể về nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử dựa trên giới tính, nhưng trên thực tế cần bảo đảm cơ chế triển khai thực hiện các quy định này trên thực tế. Cần nâng cao nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động về lợi ích kinh tế và xã hội của bình đẳng giới và nhất là thay đổi tư duy của người sử dụng lao động nhằm xoá bỏ những định kiến và rào cản đối với cả nam và nữ.
Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có cơ chế giám sát các cơ sở lao động trong việc thực hiện chế độ thai sản, cung cấp và xã hội hóa các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc trẻ em để tạo điều kiện tốt nhất cho cả lao động nam và nữ; đảm bảo phụ nữ và nam giới được tạo cơ hội bình đẳng trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao tay nghề; trong lương hay thậm chí là trong thi đua, khen thưởng…
Thứ tư, tập trung nhân rộng các mô hình tốt thực hiện bình đẳng giới:
Các địa phương đã triển khai mô hình tuyên truyền về bình đẳng giới như "Câu lạc bộ bình đẳng giới", tổ công tác "tư vấn, hỗ trợ bạo lực giới", xây dựng "Nhà tạm lánh" hỗ trợ người bị bạo hành về giới… đã phát huy tác dụng trên thực tế. Tuỳ vào điều kiện từng địa phương mà cần duy trì, nhân rộng các mô hình này.
Như vậy, có thể thấy rằng bình đẳng giới là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước dành sự ưu tiên đặc biệt. Và những nỗ lực trong việc thực hiện bình đẳng về giới đã mang lại nhiều thành tựu to lớn được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá rất cao. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được rõ ràng, không thể phủ nhận vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Nhưng cần khẳng định một lần nữa: Bình đẳng giới, bình đẳng các dân tộc trở thành mục tiêu phát triển của Việt Nam nói riêng, của cộng đồng quốc tế nói chung; và để đạt được mục tiêu này không phải một sớm một chiều mà là cả một quá trình lâu dài và cần sự vào cuộc của chính quyền, sự tham gia của toàn dân.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)