1. Quy định về hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp được sửa đổi

Theo quy định tại Điều 1 của Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993, các điều sau được quy định: Tất cả tổ chức và cá nhân sử dụng đất cho mục đích sản xuất nông nghiệp đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, được gọi chung là hộ nộp thuế; Ngay cả khi hộ có quyền sử dụng đất nông nghiệp nhưng không sử dụng, họ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp. Thuế đất nông nghiệp có thể được hiểu là một khoản thuế áp dụng đối với tổ chức và cá nhân sử dụng đất nông nghiệp hoặc đối với những trường hợp mà Nhà nước giao đất nông nghiệp cho mục đích sản xuất. Đây là một khoản thu nghĩa vụ mà tổ chức và cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi sử dụng đất nông nghiệp hoặc khi được giao đất nông nghiệp để sản xuất.

Thuế đất nông nghiệp tập trung vào việc đánh thuế các khu vực đất được sử dụng nhưng không tạo ra thu nhập từ đất. Điều này có thể áp dụng cho những khu vực đất có mục đích nông nghiệp nhưng không sinh lợi nhuận. Loại thuế này thường được xem xét từ góc độ xã hội cao vì nó không chỉ là một công cụ thu thuế mà còn có thể được sử dụng để quản lý sử dụng đất nông nghiệp và bảo vệ nguồn lực đất. Thuế đất nông nghiệp có thể được tính toán dựa trên sản lượng thóc hoặc có thể được nộp bằng tiền tùy thuộc vào cơ chế và quy định cụ thể của từng địa phương. Giá thóc được sử dụng để tính thuế đất nông nghiệp thường do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định, với mức thu không thấp hơn 10% so với giá thị trường địa phương. Quyết định thuế bằng thóc trong trường hợp đặc biệt: Trong các trường hợp đặc biệt, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể quyết định thuế được tính bằng thóc, thể hiện sự linh hoạt của cơ quan chính quyền địa phương trong việc điều chỉnh các biện pháp thuế để phản ánh đặc thù của từng trường hợp.

Nghị định số 146/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ đã tiến hành sửa đổi và bổ sung Điều 5 của Nghị định số 20/2011/NĐ-CP ngày 23/3/2011 của Chính phủ, chi tiết hóa và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 về miễn và giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp. Theo các điều khoản của nghị định, kể từ ngày 1/1/2021, thời hạn thực hiện hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp được kéo dài đến hết ngày 31/12/2025, dựa trên cơ sở hạng đất đã được quy định và thực hiện trong giai đoạn từ năm 2011 đến hết năm 2020.

Trong trường hợp các địa phương được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp theo quy định, thì thực hiện theo quy định đó đến hết ngày 31/12/2025. Hiện tại, theo quy định hiện hành, hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp được áp dụng từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 31/12/2020, dựa trên cơ sở hạng đất đã được quy định và thực hiện trong giai đoạn từ năm 2003 đến hết năm 2010.

2. Hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2021 - 2025

Ngày 18/12/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định 146/2020/NĐ-CP, thực hiện sửa đổi và bổ sung Điều 5 của Nghị định 20/2011/NĐ-CP ngày 23/3/2011, chi tiết hóa và hướng dẫn thi hành Nghị quyết 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về miễn và giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Cụ thể, để xác định cơ sở tính và thu thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với những đối tượng không trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp mà giao cho tổ chức hoặc cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để thực hiện sản xuất nông nghiệp, Nghị định đã điều chỉnh và bổ sung Điều 5 của Nghị định 20/2011/NĐ-CP như sau: Kéo dài thời hạn thực hiện hạng đất tính thuế SDĐNN đối với trường hợp không được miễn thuế SDĐNN đến hết ngày 31/12/2025, dựa trên cơ sở hạng đất đã được quy định và thực hiện trong giai đoạn từ năm 2011 đến hết năm 2020. Thông thường, quy định về thuế SDĐNN và các biện pháp hỗ trợ, như miễn thuế hay kéo dài thời hạn, có thể thay đổi tùy theo quy định của từng quốc gia và thời kỳ cụ thể. Việc kéo dài thời hạn có thể được thực hiện để hỗ trợ những người sử dụng đất nông nghiệp và thúc đẩy phát triển nông nghiệp. Trong trường hợp địa phương được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp theo quy định, thì quy định đó sẽ được thực hiện đến hết ngày 31/12/2025. Quyết định điều chỉnh hạng đất có thể là một biện pháp linh hoạt để thích ứng với điều kiện cụ thể tại địa phương, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, và hỗ trợ những người sử dụng đất nông nghiệp. Thời hạn đến hết ngày 31/12/2025 cho thấy một khung thời gian cụ thể mà quy định này sẽ có hiệu lực.

Hiện nay, Điều 5 của Nghị định 20/2011/NĐ-CP quy định về hạng đất tính thuế SDĐNN như sau: Hạng đất tính thuế Hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp được xác định ổn định trong 10 năm, bắt đầu từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 31/12/2020, dựa trên cơ sở hạng đất đã được quy định và thực hiện trong giai đoạn từ năm 2003 đến hết năm 2010.

3. Quy định thu thuế, nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp 

Theo quy định tại Chương 4 của Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993, quy định về thu thuế, nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp như sau:

- Quy trình thuế đất nông nghiệp, đặc biệt là việc duyệt sổ thuế, xác định mức thuế phù hợp với vụ thu hoạch cây trồng, và quy định thời hạn nộp thuế tại Việt Nam. Nền tảng sổ thuế đóng vai trò quan trọng trong quản lý thuế và thu nhập từ hoạt động nông nghiệp. Việc xác định mức thuế theo vụ thu hoạch chính của từng loại cây trồng là một cách tiếp cận linh hoạt và có thể tùy chỉnh để phản ánh điều kiện cụ thể tại từng địa phương. Thời hạn nộp thuế được quy định để đảm bảo tính đồng đều và kịp thời trong quá trình thu thuế. Thông báo trước ít nhất 10 ngày trước thời điểm nộp thuế là quan trọng để người nộp thuế có đủ thời gian chuẩn bị và thực hiện nghĩa vụ của mình đúng hạn.

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp được tính bằng thóc và được nộp bằng tiền. Giá thóc để tính thuế được quyết định bởi Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và không thấp hơn 10% so với giá thị trường tại địa phương trong vụ thu thuế. Thông thường, thuế sử dụng đất nông nghiệp có thể được tính dựa trên nhiều yếu tố như diện tích đất, loại đất, và giá trị sử dụng đất, và cơ quan chính quyền địa phương có thể đưa ra các quy định cụ thể về cách tính và nộp thuế này.

- Trong những trường hợp đặc biệt, có thể áp dụng thuế bằng thóc và quyết định về điều này do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành. Điều này cho thấy có sự linh hoạt và quyền lực của cấp chính quyền địa phương để điều chỉnh và quyết định về việc áp dụng thuế trong những tình huống đặc biệt. Quyết định áp dụng thuế bằng thóc có thể phản ánh sự hiểu biết sâu sắc về bối cảnh và đặc thù địa phương trong việc quản lý nguồn thuế từ sử dụng đất nông nghiệp. Điều này cũng có thể là một biện pháp nhằm đảm bảo tính công bằng và phù hợp với điều kiện cụ thể tại địa phương.

- Khi năm thuế kết thúc, cơ quan trực tiếp thu thuế phải thực hiện quyết toán kết quả thu thuế của từng hộ và báo cáo quyết toán bằng văn bản đến cơ quan thuế cấp trên và Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Đồng thời, thông tin này cần được niêm yết công khai để thông báo cho nhân dân. Quy trình quyết toán thuế thường là một phần quan trọng của hệ thống thuế để đảm bảo minh bạch, tính công bằng, và tuân thủ pháp luật thuế. Việc báo cáo kết quả thu thuế bằng văn bản và niêm yết công khai thông tin này giúp tạo điều kiện cho sự giám sát từ cộng đồng và đồng thời cung cấp thông tin quan trọng cho quyết định của chính quyền địa phương và cấp trên.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Khai và nộp tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hộ gia đình, cá nhân?

Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!