1. Tách sổ đỏ khi trong phần đất có tranh chấp được không ?

Chào Luật sư! nhờ luật sư tư vấn giúp em trường hợp sau có đúng quy định pháp luật không? e lấy ví dụ về số thửa và hộ cho dễ diễn đạt. em mua một thửa đất số 3 của hộ A. hộ A có 1 sổ đỏ gồm bốn thửa 1, 2, 3, 4. Nhưng có vấn đề là: hộ B cũng có sổ đỏ chứa 2 thửa đất 1,2. trên sổ này hoàn toàn không có thửa số 3 mà em mua.
Hiện 2 hộ A và B đang tranh chấp hai thửa đất số 1,2 trên sơ đồ đất thể hiện rõ ranh giới đất thửa số 3 không dính trong hai thửa đất tranh chấp. Em có đọc qua luật đất đai thì thấy quy định quản lý sổ đỏ theo số thửa, em nghĩ là có thể tách sổ được. em xin hỏi công ty trường hợp này tách sổ được không? Và thủ tục tách sổ như thế nào?
Em rất mong nhận được tư vấn từ Luật sư. Xin chân thành cảm ơn, Luật sư!

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 khoản 2 của điều 188 Luật đất đai 2013:

"Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này."

Như bạn có trình bày thì 1 sổ đỏ gồm 4 thửa đất là 1,2,3,4 như vậy cả 4 thửa đất này đều thuộc chung một mảnh đất, mà cả 2 trong số 4 thửa đất này lại có tranh chấp với một hộ gia đình khác nên để đảm bảo điều kiện " đất không có tranh chấp" thì hộ gia đình A phải thực hiện thủ tục tách thửa thì mới có thể chuyển nhượng sang cho bạn được.Theo quy định tại khoản 1, điều 75 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013:

"Điều 75. Trình tự, thủ tục thực hiện tách thửa hoặc hợp thửa đất

1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị tách thửa hoặc hợp thửa.

Hồ sơ này hộ gia đình gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai, hồ sơ nộp gồm những giấy tờ sau:

- Đơn xin tách thửa đất ( theo mẫu)

- Giấy chứng nhận đã cấp bản chính

- Hộ khẩu và chứng minh nhân dân "

Sau khi tách thửa xong và đất được tách đó thỏa mãn những điều kiện còn lại được quy định tại khoản 1, 2 của điều 188 Luật đất đai 2013 thì hộ gia đình A có thể chuyển nhượng thửa đất số 3 đó cho bạn. Thủ tục chuyển nhượng như sau:

- Bước 1: Lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

- Bước 2: Công chứng hoặc chứng thực Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

Căn cứ vào điểm a Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013 quy định

"Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b điều này"

Theo quy định này thì công chứng hoặc chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là bắt buộc, nếu không công chứng hoặc chứng thực nhà nước không công nhận giao dịch giữa hai bên. Các bên có thể mang hợp đồng chuyển nhượng đến Phòng công chức hoặc Văn phòng công chứng.

- Bước ba: thực hiện thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hồ sơ sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

- Hợp đồng tặng cho đã được công chứng/chứng thực;

- Bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Bản sao có chứng thực Chứng minh thư nhân dân của 2 bên;

- Bản sao có chứng thực Sổ hộ khẩu của 2 bên;

Hồ sơ này bạn nộp tại Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện. Bên cạnh việc chuyển nhượng thì cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ tài chính có liên quan để cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quy hoạch xây dựng theo quy định mới nhất ? Có được phép xây nhà trên phần đất quy hoạch ?

2. Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất khi chỉ có giấy tờ viết tay ?

Kính gửi Hãng luật Minh Khuê: Em có một vấn đề tranh chấp đất đai như sau, kính mong được luật sư giải quyết: Trước đấy ở quê, nhà em có mua một mảnh vườn. Tuy nhiên, thời điểm đó thì cũng chả có văn phòng công chứng đâu ạ. Chủ yếu là viết tay cho nhau. Em ko nhớ chính xác giá trị mảnh đất thời điểm đó. Tuy nhiên nhà em vẫn canh tác thửa đất đó.
Thời gian gần đây, nhà em phát hiện chủ đất cũ ( người bán mảnh đất đó cho nhà em đã chủ định đi làm Giấy chứng nhận cho thửa đất đó ) sau đó họ còn mang giấy chứng nhận đi thế chấp tại ngân hàng để dùng khoản tiền đó để kinh doanh. Mảnh đất đó bây giờ giá trị đã tăng cao do con đường cũ được mở rộng .... họ cũng thể hiện ý định chiến đoạt lại mảnh đất.
Em muốn hỏi, có thể kiện họ được ko ? Và họ có vi phạm Luật hình sự hay không ? Nếu có thì khung hình phạt thế nào ạ. Hiện nay, nhà em đã chuyển xuống Hà Nội. Nếu có thể kiện, em có thể kiện họ ngay tại Hà Nội được ko ạ ?
Em rất mong nhận được sự giúp đỡ từ hãng luật. Em xin trân thành cảm ơn !

Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất khi chỉ có giấy tờ viết tay ?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi:1900.6162

Luật sư tư vấn:

Khoản 5 Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định:

"5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:
a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;"

Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP giải thích căn cứ việc sử dụng đất ổn định như sau:

"Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định

1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).
2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:
a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;
b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;
c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;
d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;
đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;
e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;
g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;
h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;
i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;
k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.
3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.
4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất."

Như vậy, có thể thấy rằng, gia đình bạn mới là người sử dụng ổn đất mảnh đất này, gia đình bạn có giấy tờ về mua bán đất có chữ ký của cả hai bên và có iên lại nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất. Vì vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ cũ của mảnh đất như vậy là sai quy định pháp luật. Gia đình bạn có quyền khởi kiện chủ cũ của mảnh đất.

Theo đó, bạn có thể nộp Hồ sơ xin thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho chủ cũ theo quy định tại Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013 như sau:

"2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai."

Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục này như sau:

"4. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai theo quy định như sau:
a) Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phát hiện nội dung Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định thì nộp hồ sơ gồm:
- Đơn phản ánh việc cấp Giấy chứng nhận không đúng quy định;
- Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp;" ( Điểm a Khoản 4 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chính)

Theo đó, bạn cần làm đơn đề nghị đính chính gửi tới Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp quận, huyện, kèm theo đơn là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ khác chứng minh thông tin có sai lệch để đề nghị giải quyết. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm kiểm tra; lập biên bản kết luận về nội dung và nguyên nhân sai sót; lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền thực hiện đính chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã cấp có sai sót; đồng thời chỉnh lý nội dung sai sót vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai. Nếu như cơ quan này không giải quyết được cho bạn thì bạn mới được khởi kiện hành vi hành chính theo quy định tại Điều 204 Luật đất đai 2013.

Th2: trước khi khởi kiện ra tòa về hành vi của chủ đất cũ, bạn phải tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013. Nếu như hòa giải tại UBND xã không thành thì sẽ do Tòa án nhân dân giải quyết theo Khoản 1 Điều 203 Luật đất đai như sau:

"Điều 203: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết
"

Đối với hành vi của chủ đất thì xử lý theo quy định tại Điều 206 Luật đất đai 2013 như sau:

"Điều 206: Xử lý đối với người có hành vi vi phạm về pháp luật đất đai
1. Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại
."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Năm 2021, xây nhà lấn, chiếm đất công có bị phạt không ?

3. Đất đai bị UBND xã ra quyết định đấu thầu khi đang tranh chấp ?

Kính chào Luật sư!Tôi có một tình huống xin các luật sư của văn phòng luật Mình Khuê tư vấn giúp tôi như sau: Trước vườn nhà tôi có 6 thửa đất nhỏ trong đó gia đình tôi có ba thửa 1 thửa gần mặt đường,trước là đất nông nghiệp nhưng được xã cho gia đình sản xuất lâu dài từ năm 2002 hai thừa đất kia là đất do ông bà để lại và sử dụng ổn định lâu dài.
V̀à không có giấy tờ đất từ năm 1994 (đến 2019 bị xã đưa ra đấu thầu) hai thửa đất của nhà bên cạnh cũng là đất do ông bà trước để lại.một thửa còn lại là của ông cậu cho gia đình tôi sử dụng từ năm 1995 (đất của ông cậu cũng do ông bà trước để lại.năm 2016 gia đình tôi và gia đình bên cạnh tranh chấp về thửa đất sát mặt đường do uỷ ban xã cho gia đình tôi sử dụng năm 2002 do tranh chấp nên năm 2019 UBND xã ra quyết định đấu thầu cả 6 mảnh đất nói trên nay 6 mảnh đất đó được một gia đình khác xây dựng một phần, gia đình tôi mua lại một phần và một phần nhỏ chưa có người mua cho tôi hỏi việc xã làm vậy có đúng không ? và nay chúng tôi có quyền khởi kiện để lấy lại đất do ông bà để lại không ?
Trân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn đất đai qua tổng đài điện thoại, gọi:1900.6162

Trả lời:

Về nguyên tắc, việc sử dụng đất đai được coi là hợp lệ khi người sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất do nhà nước cấp. Đây được xemlà chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất. Việc gia đình bạn sử dụng đất nhưng chưa có giấy chứng nhận là chưa đảm bảo về mặt pháp lý và có thể ảnh hưởng đến một số quyền lợi liên quan đến đất đai sau này của gia đình bạn.

1 - Về mảnh đất mặt đường

Bạn cần căn cứ vào quyết định giao đất của xã cho gia đình bạn sản xuất (thời hạn, điều kiện,...) để xác định quyền và nghĩa vụ của mình đối với mảnh đất này.

2 - Về các mảnh đất còn lại: tại thời điểm xã đấu thầu là năm 2019, nên cần xem xét quyền sử dụng đất của bạn theo Luật đất đai 2013

Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;

c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;

d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Như vậy theo như thông tin bạn trình bày thì 05 mảnh đất này đều không đáp ứng được các điều kiện được cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật.

Do đó, bạn không có quyền đối với 05 mảnh đất này.

3 - Về thẩm quyền đấu thầu của UBND cấp xã

Như vậy, đất của bạn thuộc trường hợp bị thu hồi do lấn, chiếm. Tuy nhiên, việc UBND cấp xã thu hồi đất như vậy là không đúng thẩm quyền.

Điều 66. Thẩm quyền thu hồi đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.

Bạn có quyền khiếu nại (cần xem xét thời hiệu theo quy định Luật Khiếu nại 2011) hoặc khiếu kiện quyết định đó theo quy định Luật Đất đai năm 2013:

Điều 204. Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Mẫu văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại mới nhất năm 2021

4. Tư vấn về tranh chấp thủ tục mua bán, chuyển nhượng đất đai ?

Kính chào Luật Minh Khuê, THỦ TỤC MUA BÁN NHÀ ĐẤT - Em có thắc mắc muốn được Luật sư giải đáp: Em nhận được 01 quyết định của của Tòa án và 01 của Cục thi hanh án dân sự.

Đơn khiếu nại được chồng em gởi bên Cục thi hành án nhưng được trả lời là đã hết hạn giải quyết (hiện văn bản trả lời của cục thi hành án đã gởi chuyển fax nhanh đến vợ chồng em nhưng vợ chồng em chưa nhận được). Tôi đã nộp 01 bộ hồ sơ chủ quyền đất và giấy phép XD (xin phép xây dựng 2 lần).

Luật sư cho em hỏi:

1. Việc tranh chấp đất đai này là do bên A (chủ đời đầu tiên của miếng đất) kiện bên B (chủ đời thứ 2 của miến đất) mà trước khi em thực hiện hợp đồng mua bán đất (năm 2014) với bên B thì lúc đó bên A đã chuyển quyền sở hữu miếng đất cho bên B rồi. Trước kia bên A nợ tiền bên B và được tòa án ra quyết định miếng đất này thuộc về bên B để trừ nợ. Vì vậy chị cho em hỏi là:

- Việc tranh chấp miếng đất ở thời điểm hiện tại này giữa bên A và Bên B có liên quan gì đến em?

- Em cũng đã thực hiện theo quyết định là tạm ngừng thi công 15 ngày (thực tế bên em đã dừng 10/10/2016 đến 21/11/2016) đến hôm nay (22/11/2016) bên em thi công lại thì bên Đô thị lại ko cho em thi công. Vậy chị cho em hỏi em phải làm gì để được tiếp tục thi công?

2. Quyết định tạm ngừng thi công ra ngày 10/10/2016 đến 12/11/2016 bên em gởi đơn khiếu nại lên chi cục thi hành án thì được trả lời là hết hạn giải quyết đơn khiếu nại, vậy chị cho em hỏi là đúng hay sai?.

Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

Người gửi: HĐL Huy

Tư vấn về tranh chấp thủ tục mua bán, chuyển nhượng đất đai ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời:

1.Thứ nhất về việc tranh chấp đất đai này là do bên A (chủ đời đầu tiên của miếng đất) kiện bên B (chủ đời thứ 2 của miến đất) mà trước khi em thực hiện hợp đồng mua bán đất (năm 2014) với bên B thì lúc đó bên A đã chuyển quyền sở hữu miếng đất cho bên B rồi. Trước kia bên A nợ tiền bên B và được tòa án ra quyết định miếng đất này thuộc về bên B để trừ nợ.

•Một là về việc việc tranh chấp miếng đất ở thời điểm hiện tại này giữa bên A và Bên B có liên quan gì đến bạn không?

Điểm a Khoản 4 ĐIều 95 Luật đất đai 2013 quy định

Điều 95. Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

4. Đăng ký biến động được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã đăng ký mà có thay đổi sau đây:

a) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất;

Căn cứ khoản 2 Điều 164 Nghị định 42/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai quy định

Điều 64. Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

2. Hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của nhóm người sử dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải được tất cả các thành viên trong nhóm ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa đất trong nhà chung cư.

Như vậy bạn có quyền sở hữu diện tích đất trên kể từ thời điểm bạn thực hiện xong thủ tục đăng ký sang tên tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Còn việc hai bên tiến hành xong hợp đồng mua giữa bạn và bên B theo quy định của pháp luật chỉ là đảm bảo về mặt hình thức của hợp đồng.Do đó khi bên A khởi kiện bên B thì bạn sẽ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự trên. Cụ thể:

Căn cứ khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

•Hai là việc bạn cũng đã thực hiện theo quyết định là tạm ngừng thi công 15 ngày (thực tế bên em đã dừng 10/10/2016 đến 21/11/2016) đến hôm nay (22/11/2016) bên bạn thi công lại thì bên Đô thị lại ko cho bạn thi công.

Căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại của Quốc hội, số 02/2011/QH13:

“1. Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.”

Căn cú Điều 7 Luật khiếu nại năm 2011:

“Điều 7. Trình tự khiếu nại

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”

Căn cứ Điều 27, Điều 28 Luật khiếu nại năm 2011:

“Điều 27. Thụ lý giải quyết khiếu nại

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền mà không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 11 của Luật này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý giải quyết; thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết, trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do.”

Điều 28. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu

“Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.”

Như vậy trong trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền nộp đơn khiếu nại cơ quan đã ra quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính với mình cụ thể là cơ quan quản lý đô thị nơi có mảnh đất.Thời hạn giải quyết là 40 ngày, trong trường hợ phức tạp thì thời hạn này có thể là 55 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được đơn khiếu nại.Đơn khiếu nại gồm nội dung sau:

Căn cứ khoản 2 Điều 8 Luật khiếu nại năm 2011:

“2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.”

2.2.Thứ hai quyết định tạm ngừng thi công ra ngày 10/10/2016 đến 12/11/2016 bên em gởi đơn khiếu nại lên chi cục thi hành án thì được trả lời là hết hạn giải quyết đơn khiếu nại, vậy chị cho em hỏi là đúng hay sai?.

Căn cứ Điều 140 Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 của Quốc hội (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự của Quốc hội, số 64/2014/QH13):

“Điều 140. Quyền khiếu nại về thi hành án

1. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên như sau:

a) Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

b) Đối với quyết định về áp dụng biện pháp phong toả tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định;

Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

c) Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;

d) Đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó.

Trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn khiếu nại.

Lần khiếu nại tiếp theo, thời hiệu là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền.”

Như vậy theo thông tin bạn cung cấp không rõ là trường hợp này chồng bạn khiếu nại về nội dung gì nên căn cứ khoản 2 Điều 140 để bạn có thể xác định thời hạn trong trường hợp của minh. Nếu còn trong thời hạn mà cơ quan thi hành án không giải quyết đơn khiếu nại thì bạn có thể tiếp tục làm đơn khiếu nại lần hai.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Luật sư tư vấn thủ tục tách thửa đất đai

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp là gì ? Khái niệm về giải quyết tranh chấp ?

5. Có quyền giữ lối đi chung khi phát sinh tranh chấp với nhà hàng xóm ?

Gia đình tôi được chính quyền thôn, xã cấp cho 1 lối đi, trên sổ địa chính cũng chỉ ghi cho mình nhà tôi được đi trên đường đó. Nay nhà hàng xóm xây nhà và muốn đi cùng đường đó, họ bảo đấy là ngõ chung, gia đình tôi không có quyền giữ. Vậy gia đình tôi có quyền giữ không và họ có được đi vào không?

Có quyền giữ lối đi chung khi phát sinh tranh chấp với nhà hàng xóm

Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 254. Quyền về lối đi qua

1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù.

Đối với các bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó. Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thoả thuận khác. Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi. Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù.

Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thoả thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.

Để xác định phần ngõ gia đình bạn đang sử dụng thuộc quyền sở hữu của gia đình bạn hay thuộc quyền sở hữu chung thì phải căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bạn và sổ địa chính của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có mảnh đất gia đình bạn để xác định.

Trường hợp thứ nhất, ngõ vào này thuộc quyền sở hữu của gia đình bạn thì gia đình hàng xóm chỉ được phép sử dụng lối đi của gia đình bạn khi mảnh đất của gia đình hàng xóm bị vây bọc bởi các mảnh đất khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng. Bên cạnh đó, ngõ vào thuộc quyền sở hữu của gia đình bạn phải là lối đi thuận tiện và hợp lý nhất cho gia đình hàng xóm, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho mảnh đất gia đình bạn. Đồng thời, gia đình hàng xóm phải đền bù cho gia đình bạn từ trường hợp hai gia đình có thỏa thuận khác theo quy định tại Khoản 1 Điều 254 BLDS.

1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trường hợp thứ hai, ngõ vào không thuộc sở hữu của gia đình bạn mà thuộc sở hữu chung, sử dụng cho mục đích công cộng. Khi đó, gia đình hàng xóm hoàn toàn có quyền tự do được sử dụng lối đi mà không cần xin phép gia đình bạn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp đất đai với chủ đất liền kề? Cách xử lý tranh chấp đất đai ngoài bìa đỏ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Cách hiểu đúng nhất về tranh chấp đất đai?

Trả lời:

Khoản 3 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định:

“Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.

Tuy nhiên, việc căn cứ vào quy định này để phân biệt giữa tranh chấp đất đai và tranh chấp liên quan đến đất đai rất khó khăn (thủ tục giải quyết 02 loại tranh chấp này khác nhau).

Theo đó, tranh chấp đất đai là tranh chấp trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng, bao gồm cả tranh chấp xác định ranh giới giữa các thửa đất liền kề. Những tranh chấp về chuyển nhượng, tặng cho, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất,...không phải là tranh chấp đất đai.

Câu hỏi: Bản chất, ý nhĩa của việc tranhc chấp đất đai là gì?

Trả lời:

Ý nghĩa việc xác định tranh chấp đất đai: Tranh chấp đất đai, mà cụ thể là tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất nếu muốn khởi kiện. Hay nói cách khác, tranh chấp đất đai không được khởi kiện luôn tại Tòa án mà phải hòa giải tại UBND cấp xã, nếu không sẽ bị trả lại đơn khởi kiện.

Như vậy, tranh chấp đất đai là tranh chấp trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đất.

Câu hỏi: Có phải hòa giải tại UBND cấp xã trước khi khởi kiện tranh chấp đất đai hay không?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai 2013, tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã (xã, phường, thị trấn) nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

Cũng theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết này, đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: Tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,...không bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã.

Như vậy, chỉ tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mới bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất.