1. Phân tích dấu hiệu, động cơ của tội giết người ?

Thưa luật sư, xin hỏi: A có ý định giết chị C (là vợ của A) để tự do lấy nhân tình. A bỏ thuốc độc vào ấm thuốc bắc của chị C làm chị C bị ngộ độc nhưng không chết, tổn hại sức khoẻ không đáng kể. Khoảng một tháng sau đó, A tán thuốc ngủ thành bột và trộn với bột sắn dây.

Chị C không biết bột sắn dây có trộn thuốc ngủ nên pha một cốc uống và đã tử vong. A bị kết án về tội giết người theo khoản 1 điều 123 BLHS. Câu hỏi:

1. Phân tích dấu hiệu xác định động cơ phạm tội và lỗi của A đối với hành vi phạm tội trong tình huống nêu trên ?

2. Phân tích các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm trong tình huống nêu trên ?

3. Xác định giai đoạn thực hiện tội phạm và hình phạt cao nhất mà tòa án có thể áp dụng với hành vi phạm tội của A ?

4. Giả định trước khi thực hiện hành vi phạm tội như tình huống nêu trên, A đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích, thì lần phạm tội này của A bị coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm ?

Cảm ơn!

Trả lời:

1. Phân tích dấu hiệu xác định động cơ phạm tội và lỗi của A đối với hành vi phạm tội trong tình huống nêu trên.

Theo khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội giết người:

"1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn."

A bị kết án về tội giết người theo khoản 1 Điều trên, với động cơ phạm tội ở đây là vì động cơ đê hèn. Có thể thấy, động cơ của A rất rõ ràng khi có ý định giết chị C (là vợ của A) để tự do lấy nhân tình. A đã bỏ thuốc độc vào ấm thuốc bắc của chị C làm chị C bị ngộ độc nhưng không chết, tổn hại sức khoẻ không đáng kể. Sau đó, A tán thuốc ngủ thành bột và trộn với bột sắn dây. Chị C không biết nên đã uống và tử vong.

Theo khoản 1 Điều 10 BLHS năm 2015 quy định về trường hợp cố ý phạm tội của A:

"1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra".

Ở đây A nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của C, đương nhiên thấy được hậu quả của hành vi đồng thời A mong muốn hậu quả xảy ra đó là mong muốn C chết để tự do lấy nhân tình. Do đó lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp.

2. Phân tích các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm trong tình huống nêu trên.

Mặt khách quan của tội phạm là những yếu tố bên ngoài của tội phạm, bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.

Trong tình huống của A, hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi dùng thủ đoạn để chấm dứt sự sống của C (bỏ thuốc độc làm C bị ngộ độc, tán thuốc ngủ thành bột và trộn với sắn dây). Hành vi này đã dẫn đến hậu quả là C tử vong (do không biết sắn dây có trộn thuốc ngủ nên đã uống và tử vong). A nhận thức rõ hành vi của mình và mong muốn cho hậu quả xảy ra.

3. Xác định giai đoạn thực hiện tội phạm và hình phạt cao nhất mà tòa án có thể áp dụng với hành vi phạm tội của A.

Lần thứ nhất phạm tội, A thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt do A thực hiện bỏ thuốc độc vào ấm thuốc của vợlàm chị C bị ngộ độc nhưng không chết, tổn hại về sức khỏe không đáng kể nên mức hình phạt sẽ không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định (khoản 3 Điều 57 BLHS năm 2015)

Lần thứ hai, A đã phạm tội giết người và giai đoạn phạm tội đã hoàn thành, hoàn thành về mặt hành vi và đạt được mục đích là khiến nạn nhân tử vong. Ở đây mục đích của A là giết vợ để tự do lấy tình nhân nên có thể coi là giết người vì động cơ đê hèn (thuộc điểm q, khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015) do đó mức cao nhất của khung hình phạt này là tử hình.

4. Giả định trước khi thực hiện hành vi phạm tội như tình huống nêu trên, A đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích, thì lần phạm tội này của A bị coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?

Theo Điều 53 BLHS năm 2015 quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm:

"1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý".

Trong tình huống của A, có thể chia thành 2 trường hợp như sau:

Nếu A phạm tội thuộc vào khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 với mức cao nhất của khung hình phạt là 03 năm, tức là thuộc loại tội ít nghiêm trọng, thì A thuộc trường hợp tái phạm.

Nếu A phạm tội thuộc vào khoản 3 Điều 173 BLHS năm 2015 với mức cao nhất của khung hình phạt là 15 năm, thuộc loại tội rất nghiêm trọng, thì A thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm (khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015).

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tái phạm trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.0159 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thế nào là cố ý phạm tội ? lỗi vô ý phạm tội ? Hình phạt với các lỗi này

2. Tác dụng của dư luận trong vụ án giết người là gì ?

Thưa luật sư, mình thắc mắc dạo gần đây trên mạng truyền tin nhau về vụ việc xin 50000 chữ kí để giúp bắt tên hung thủ chịu hình phạt của phát luật. Mình mong đoàn luật sư tư vấn giúp liệu có đủ chữ kí thì tòa án bên nhật có xử tử hình tên giết người không ?

Dưới đây mình xin ghi lại nội dung của kêu gọi kí 50000 chứ ký vụ việc bé nhật linh đã 10 tháng rồi đấu tranh nhưng vẫn chưa có kết quả gì & có thể rơi vào nguy cơ bế tắc ah.

Theo gia đình em thì vì thủ phạm vẫn dùng quyền im lặng trong vụ này, nên dù trên đồ đạc của em có adn của nó nhưng vẫn không thể kết tội, không làm được gì và nó sẽ vẫn nhơn nhơn sống không hối lỗi trên đời này & vì nhật hiếm hiếm lắm mới có phạm tội tử hình. Tuy nhiên luật sư bên nhật cũng đã hướng dẫn gia đình, vì trước đây ở nhật cũng đã có một vụ tương tự xảy ra, nếu xin được ít nhất 50. 000 chữ ký của người việt lẫn người nhật, thể hiện sự bức xúc lẫn đồng tình tử hình thủ phạm thì pháp luật nhật sẽ có hướng xét xử mà không cần lão già độc ác đó lên tiếng gì. Bố mẹ em đã kêu gọi lấy lại công bằng cho bé suốt 10 tháng rồi, em hay theo dõi fb mẹ bé, lúc đầu nghĩ thôi thì kệ, nhưng không ngờ từng ấy thời gian mà còn thiếu quá nhiều chữ ký, cũng chỉ bởi dân mình chỉ lúc đầu rộ lên do hiếu kỳ, nhưng đã không là việc của mình thì cứ kệ ngày mai sẽ lắng xuống thôi. Vì thế. Mọi người nếu có thể thì bớt chút thời gian, in bản chữ ký theo link sau rồi gửi về theo địa chỉ nhà bé tại việt nam lẫn nhật đều được.

Thông tin chi tiết mọi người xem thêm ở facebook mẹ bé nhé ạ. Mỗi bản sẽ đủ cho 15 chữ kí, lưu ý mỗi người sẽ tự kí và ghi địa chỉ, không viết hộ. Mọi người in ra: cột đầu tiên là ghi cả họ và tên; cột thứ 2 là địa chỉ: cột thứ 3 ký và ghi rõ họ tên. Nhiều người trong 1 gia đình cùng 1 địa chỉ vẫn có thể ký được, chỉ cần tự tay người đó viết thôi. Mẫu in ra rồi, tất cả còn lại đều là viết tay. Fb em ai kêu gọi được chữ ký thì có thể gửi cho em để em gửi qua cho nhà bé sớm. Mọi người bỏ chút thời gian, để cho em bé giải được nỗi oan ức ạ 🙂 mọi người thấy có thể giúp thì kêu gọi chữ ký giúp em, còn nếu thấy phiền hoặc thấy không vừa ý, kêu ân oán này nọ thì bỏ qua bài này ạ!

Điền thông tin trên bản chữ kí như sau:mỗi bản sẽ đủ cho 15 chữ kí cột đầu tiên là ghi cả họ và tên; cột thứ 2 là địa chỉ, ghi chi tiết nhé: cột thứ 3 ký và ghi rõ họ tên. Tất cả thông tin đều viết tay - viết tiếng việt được chấp nhận - không viết hộ, kí hộ.

(Người hỏi: T.T Ngọc Trâm)

Luật sư trả lời:

Theo Luật pháp của Nhật bản, án tử hình được áp dụng cho tội Giết người, đa phần là tội giết nhiều người hoặc giết người nhưng có tính chất man rợ hoặc cướp của..v.v..Tòa án Nhật Bản xem xét các tiêu chí sau để áp dụng án tử hình với tội giết người: Số lượng nạn nhân, động cơ, cách thức phạm tội, ảnh hưởng của hành vi đó đến xã hội. Với tội giết một người thì thủ phạm khó có thể bị tuyên án tử hình nếu không có các tình tiết tăng nặng như cướp của, hiếp dâm...

Với trường hợp của bé Nhật Linh tại Nhật Bản, thủ phạm vẫn đang sử dụng quyền im lặng của mình hoặc chỉ lên tiếng khi có mặt của luật sư, điều đó khiến cho Tòa án Nhật bản mất khá nhiều thời gian để chứng minh tội danh một cách thuyết phục nhất. Theo pháp luật Nhật Bản thì việc chứng minh có tội hay không chỉ được xác định theo chứng cứ của tội danh đó, như vậy việc xin chữ ký của người dân để mong muốn một án phạt thích đáng cho thủ phạm sẽ không được tòa án xem xét.

Tuy nhiên, nếu như các công tố viên điều tra vụ án đã có đủ bằng chứng kết tội nghi phạm và nghĩ rằng mình đủ sức thuyết phục được tòa, nghi phạm sẽ vẫn bị mang ra xét xử cho dù có kiên quyết giữ quyền im lặng của mình. Việc xin chữ ký của cha mẹ bé Nhật Linh không phải để đẩy nhanh quá trình xét xử nghi phạm, mà để cho tòa án thấy mức độ ảnh hưởng của hành vi mạn rợ đó với xã hội như thế nào. Khi tòa án xem xét về mức hình phạt, tòa án sẽ xem xét tổng hợp nhiều yếu tố khác nhau.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.0159 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Điều kiện để được đề nghị đặc xá, giảm án ? Hồ sơ xét đặc xá ?

3. Hành vi giết người bị xử lý như thế nào ?

Thưa luật sư, bị 1 kẻ tâm thần giết trên đường đi làm có được coi là tai nạn lao động không?. Nếu có thì sẽ được hưởng những quyền lợi gì ? Cảm ơn!

Trả lời:

Bộ luật lao động năm 2012 quy định:

Điều 142. Tai nạn lao động

1. Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

Quy định này được áp dụng đối với cả người học nghề, tập nghề và thử việc.

2. Người bị tai nạn lao động phải được cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo.

3. Tất cả các vụ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các sự cố nghiêm trọng tại nơi làm việc đều phải được khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo định kỳ theo quy định của Chính phủ.

Căn cứ theo quy định trên, trường hợp được coi là tai nạn lao động phải xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

Do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ nên chúng tôi chưa thể xác định xem trường hợp này của bạn có phải là tai nạn lao động hay không. Do đó chúng tôi sẽ chia trường hợp của bạn thành 2 trường hợp.

-Trường hợp 1: Đây được xác định là tai nạn lao động

Bộ luật lao động quy định về quyền của người lao động khi bị tai nạn như sau:

Điều 145. Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.

Trường hợp 2: Nếu đây không được coi là tai nạn lao động

Như bạn cung cấp là người bị tâm thần có hành vi giết người. Tuy nhiên cần phải căn cứ vào việc người đó bị tâm thần có đến mức bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi hay không để xác định người này có bị truy cứu TNHS hay không?. Trường hợp người bị tâm thần đến mức mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi thì nghĩa vụ bồi thường được xác định như sau:

Bộ luật dân sự 2005 quy định :

Điều 621. Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý

1. Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.

2. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra.

3. Trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu trường học, bệnh viện, tổ chức khác chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hình vi dân sự phải bồi thường.

Căn cứ theo quy định trên đối với trường hợp người bị mất năng lực hành vi dân sự ây thiệt hại thì người, tổ chức đang quản lý họ có trách nhiệm phải bồi thường.

Trường hợp người này bị tâm thần nhưng chưa đến mức mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi thì vẫn bị truy cứu TNHS theo quy định của pháp luật, về trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức được coi là một tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 như sau:

Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

và trách nhiệm bồi thường thuộc về người nhà người này.

Xin phép cho tôi hỏi, tôi có anh trai mắc tội giết người bị phạt tù 20 năm, hiện tại anh đã thụ án được 10 năm, đến ngày 2/9/2016 này anh có được hưởng đặc xá không ?

Trả lời:

Theo Điều 10 Luật Đặc xá 2007 quy định:

Điều 10. Điều kiện được đề nghị đặc xá

1. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chấp hành tốt quy chế, nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành hình phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

b) Đã chấp hành hình phạt tù được một thời gian do Chủ tịch nước quyết định nhưng ít nhất là một phần ba thời gian đối với hình phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành hình phạt tù; ít nhất là mười bốn năm đối với hình phạt tù chung thân;

c) Đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng hoặc một số tội phạm khác được Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá thì phải chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác.

Căn cứ theo quy định trên nếu anh trai bạn đáp ứng được các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 10 thì anh trai bạn sẽ có quyết định đặc xá.

Luật sư cho tôi hỏi: Người có hành vi giết người khi ra tòa mà có đơn kiện của người nhà nạn nhân thì tội danh như thế nào , và không có đơn kiện thì như thế nào ? Cảm ơn!

Trả lời:

Người phạm tội giết người, tùy từng mức độ và tính chất của vụ việc mà người này sẽ bị truy cứu TNHS theo Điều 93 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 quy định như sau:

Điều 93. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết nhiều người;

b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

c) Giết trẻ em;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Căn cứ theo quy định trên, đối với tội giết người theo Điều 93 BLHS kể cả khi không có đơn khởi kiện của người nhà bị hại thì người này vẫn bị truy cứu TNHS về tội danh giết người theo quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự.

Thưa luật sư, Cho em hỏi thủ phạm giết người xong tự tử.và cơ quan điều tra đình chỉ vụ án,người nhà bị can có bị buộc phải bồi thường cho bị hại không?

Trả lời:

Điều 604 Bộ luật Dân sự quy định:

"Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó".

Trong vụ việc này, thủ phạm đã chết nên luật quy định những người hưởng thừa kế của người này sẽ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho những người bị thiệt hại, trong phạm vi di sản người đó để lại.

Chào luật sự. Tôi làm nghề biển người ta xúc phạm tới danh dự và quyền hợp pháp nhiều lần rồi đổi cho tôi ăn cắp rồi xé lưới và đòi đánh tôi nhiều lần và có lần đã cầm cây đuổi theo tôi đánh nhưng trong lúc đó tôi chạy kịp và cách đây ít ngày nói tôi phá tiếp rồi đòi đánh tôi và Nói Tao sẽ giết nó chết rồi tao đi tù làm cho tôi không dám về nhà và đi làm Tôi rất sợ xin luật sư cho tôi biết phải làm như thế nào Cảm ơn luật sư nhiều

Trả lời:

Theo công tin bạn cung cấp, người này dùng những lời lẽ và có những hành vi làm cho bạn lo sợ rằng việc đe dọa đó sẽ được thực hiện, thì tùy thuộc vào mức độ mà người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm theo Điều 103 BLHS như sau:

Điều 103. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ rằng việc đe doạ này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Đối với nhiều người;

b) Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

c) Đối với trẻ em;

d) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

Trong trường hợp này bạn nên làm đơn tố cáo gửi tới cơ quan công an để được giải quyết. Mẫu đơn tư vấn bạn có thể tham khảo như sau: Mẫu đơn tố cáo

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Án tử hình thực hiện như thế nào ? Nên duy trì hay loại bỏ án tử hình ?

4. Phân tích lỗi của tội giết người theo luật hình sự ?

Thưa luật sư, xin hỏi về tình huống: a có ý định giết chị c (là vợ của a) để tự do lấy nhân tình. A bỏ thuốc độc vào ấm thuốc bắc của chị c làm chị c bị ngộ độc nhưng không chết, tổn hại sức khoẻ không đáng kể. Khoảng một tháng sau đó, a tán thuốc ngủ thành bột và trộn với bột sắn dây.

Chị c không biết bột sắn dây có trộn thuốc ngủ nên pha một cốc uống và đã tử vong. A bị kết án về tội giết người theo khoản 1 điều 123 blhs.

Câu hỏi:

1. Phân tích dấu hiệu xác định động cơ phạm tội và lỗi của a đối với hành vi phạm tội trong tình huống nêu trên ?

2. Phân tích các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm trong tình huống nêu trên ?

3. Xác định giai đoạn thực hiện tội phạm và hình phạt cao nhất mà tòa án có thể áp dụng với hành vi phạm tội của a ?

Cảm ơn luật sư.

- Bùi Thị Mai L

Trả lời:

Quy định về tội giết người tại Bộ luật hình sự 2015 , sửa đổi bổ sung 2017 hiện hành như sau :

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

1. Lỗi của A là lỗi cố ý trưc tiếp

Điều 10. Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

Về mặt lý trí

Đối với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ, đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi cũng như hậu quả sẽ xảy ra nếu thực hiện hành vi đó.

Về mặt ý chí

Người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh, điều này thể hiện qua hành vi của họ , những hành vi này nhằm mục đích đi đến hậu quả mà người phạm tội mong muốn.

Vậy đối chiếu với trường hợp của A thì lỗi của người này là lỗi cố ý trực tiếp.

2. Mặt khách quan của tội Giết người
Người phạm tội có hành vi làm chết người khác: Được thể hiện qua hành vi dùng mọi thủ đoạn nhằm làm cho người khác chấm dứt cuộc sống , như trường hợp của A đó là bỏ thuộc độc vào ấm thuộc và trộn thuốc ngủ vào bột sắn, không cứu giúp người vợ khi người vợ nguy kịch .

3. Hình phạt với A

Giai đoạn thực hiện tội giết người của A đó là giai đoạn phạm tội đã đạt đã hoàn thành , Hoàn thành về mặt hành vi , và đạt được mục đích là làm nạn nhân tử vong .

Lần thứ nhất khi bỏ thuốc độc vào ấm thuốc bắc của người vợ , B thuộc trường hợp phạm tội giết người ở giai đoạn chưa đạt , đã hoàn thành với mức hình phạt bằng 3/4 mức hình phạt của tội giết người .

Mặt khác tại lần thứ 2 , A phạm tội giết người với động cơ như giết người vì tính ích kỷ cao, phản trắc, bội bạc (ví dụ: giết người để cướp vợ hoặc chồng nạn nhân; giết tình nhân đã có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm; giết người đã cho vay, giúp đỡ khắc phục khó khăn, hoạn nạn nhằm trốn nợ v.v…) thì thuộc trường hợp giết người vì động cơ đê hèn .

Vậy A sẽ phạm tội thuộc điểm q khoản 1 điều 123 nêu trên với mức hình phạt cao nhất là tử hình.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.0159 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Đánh trúng mắt người thương tật 15% thì phạm tội gì ? Hành hung người khác bị phạt thế nào ?

5. Tư vấn về hình phạt đối với vụ án cố ý giết người ?

Chào Luật sư Minh Khuê! Xin tư vấn dùm cho tôi một việc: chồng tôi là nạn nhân của vụ án cố ý giết người nhưng Toà án nơi địa phương tôi lại xử thành vụ án giết người. Trong khi điều tra có gì đó không đúng với sự thật là chỉ giết người (trên thực tế là cố ý giết người) và khi dựng lai hiện trường cũng không thông báo với gia đình tôi mà dựng lại cũng không đúng với sự thật.
Vậy xin Luật sư tư vấn cho tôi biết được khi Toà án thông báo vụ án nằm ở khoản 2 điều 93 vậy có đúng không? Nếu đi tù thì hung thủ phải đi bao nhiêu năm? Nếu vẫn không chấp nhận bản án đó mà vẫn muốn kiện lên cấp cao nữa thì đưa lên cơ quan cấp cao nào được? Tôi muốn đưa vụ án này lên báo thì cho tôi hỏi nên gửi đến báo nào được tại báo nơi địa phương tôi không chấp nhận đăng (vì từ án nhẹ qua án nặng).
Rất mong Luật sư Minh Khuê trả lời dùm. Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: PTT

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Vấn đề thứ nhất: Xác định Toà án thông báo vụ án nằm ở khoản 2 điều 93 Bộ luật hình sự 1999 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2009) vậy có đúng không?

Trích dẫn nội dung:

"chồng tôi là nạn nhân của vụ án cố ý giết người nhưng Toà án nơi địa phương tôi lại xử thành vụ án giết người. Trong khi điều tra có gì đó không đúng với sự thật là chỉ giết người (trên thực tế là cố ý giết người) và khi dựng lai hiện trường cũng không thông báo với gia đình tôi mà dựng lại cũng không đúng với sự thật."

Căn cứ vào Điều 128 Bộ luật tổ tụng hình sự 2003:

"Điều 128. Thực nghiệm điều tra.
1- Để kiểm tra và xác minh những tài liệu, những tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án, cơ quan điều tra có quyền thực nghiệm điều tra bằng cách cho dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc mọi tình tiết khác của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết. Khi thấy cần, có thể đo đạc, chụp ảnh, vẽ sơ đồ.
2- Khi tiến hành thực nghiệm điều tra, phải có người chứng kiến. Trong trường hợp cần thiết, người bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng cũng có thể tham gia.
Không được xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của những người tham gia việc thực nghiệm điều tra."

Từ quy định trên có thể khẳng định, việc dựng lại hiện trường của cơ quan điều tra không bắt buộc phải thông báo với gia đình người bị hại. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật không đưa ra chế tài xử lý đối với hành vi dựng lại hiện trường không đúng với sự thật. Do vậy, để đòi lại quyền lợi cho người bị hại, gia đình có thể đệ đơn kiến nghị về kết quả của việc thực nghiệm điều tra bằng những bằng chứng chứng minh kết quả điều tra là sai sự thật cho cơ quan xét xử để có thể nhận được kết quả thỏa đáng.

Tiếp theo xác định bản án Tòa án đưa ra đối với vụ án này. Trong Bộ luật hình sự năm 1999 hay Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009 đều không có tội phạm nào là tội cố ý giết người. Chỉ có một quy định duy nhất liên quan đến tội giết người quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy, quyết định vụ án nằm ở Điều 93 của Tòa án là đúng.

Vấn đề thứ hai: xác định bản án hung thủ phải nhận

Căn cứ vào Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội giết người:

"Điều 93. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết nhiều người;

b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

c) Giết trẻ em;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

Vì người bị hại không nằm trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 93 cũng như hành vi giết người của hung thủ không vi phạm quy định cũng tại Khoản 1 điều này nên hung thủ phải chịu bản án quy định tại Khoản 2. Theo đó, mức án hung thủ phải nhận đó là án tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
Vấn đề thứ ba: "Nếu vẫn không chấp nhận bản án đó mà vẫn muốn kiện lên cấp cao nữa thì đưa lên cơ quan cấp cao nào được?"
Vì bạn không nói rõ bản án này đã có hiệu lực hay chưa nên xảy ra hai trường hợp:
-Trường hợp 1: bản án chưa có hiệu lực pháp luật:
Căn cứ vào Điều 204 và Điều 205 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:
"Điều 204. Tính chất của phúc thẩm.
Phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
Điều 205. Những người có quyền kháng cáo.
Bị cáo, người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.
Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.
Người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Người được Toà án tuyên là vô tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ vô tội."
Như vậy, nếu không chấp nhận bản án Tòa án địa phương đưa ra và trong trường hợp bản án chưa có hiệu lực pháp luật, gia đinh người bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án địa phương để đòi quyền và lợi ích chính đáng cho người bị hại.
-Trường hợp 2: bản án đã có hiệu lực pháp luật:
Căn cứ vào Điều 260, Điều 261 và Điều 262 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1999:
"Điều 260. Tính chất của tái thẩm.
Thủ tục tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án quyết định đó.
Điều 261. Những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
Những tình tiết được dùng làm căn cứ để kháng nghị tái thẩm là:
1- Lời khai của người làm chứng, kết luận giám định hoặc lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật;
2- Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xét xử sai;
3- Vật chứng hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật.
Điều 262. Thông báo và xác minh những tình tiết mới được phát hiện.
1- Người bị kết án, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân có quyền thông báo cho Viện kiểm sát hoặc Toà án những tình tiết mới được phát hiện của vụ án. Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra quyết định xác minh những tình tiết đó.
2- Nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 261 Bộ luật này thì Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị tái thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền. Nếu không có căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát trả lời cho những cơ quan, tổ chức hoặc người đã phát hiện biết."
Đối với trường hợp này, gia đình người bị hại khi có những bằng chứng chứng minh các tài liệu trong vụ án không đúng sự thật có thể thông báo cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án những tình tiết mới được phát hiện của vụ án để Viện trường Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra quyết định xác minh những tình tiết đó. Sau đó, Viện trưởng Viện kiểm sát sẽ kiến nghị tái thẩm lên cơ quan có thẩm quyền tái thẩm quy định tại Điều 266 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Vấn đề thứ tư: "Tôi muốn đưa vụ án này lên báo thì cho tôi hỏi nên gửi đến báo nào được tại báo nơi địa phương tôi không chấp nhận đăng (vì từ án nhẹ qua án nặng)"
Việc đăng báo đối với vụ án hình sự chỉ được phép nếu có quyết định chính thức từ phía cơ quan có thẩm quyền. Gia đình bạn chỉ có thể đăng báo liên quan đến vụ án nhưng với hình thức thông báo nội dung của vụ án để mọi người được biết chứ không được phép suy đoán hay làm sai lệch về kết quả điều tra của vụ án. Nếu chỉ với hình thức thông báo nội dung vụ án, việc đăng báo nơi địa phương có thể được chấp nhận. Nhưng vì gia đình bạn tự ý đưa ra bản án nặng hơn cho hung thủ mà chưa có công bố chính thức nên sẽ không có tòa soạn nào đồng ý đăng bài của gia đình bạn.

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi vào giờ hành chính ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.0159 .

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tội giết người bị xử phạt như thế nào ? Mức phạt tội đe dọa giết người