1. Tại sao phải hòa giải khi Ly Hôn tại tòa án ?

Thưa Luật sư. Tôi và chồng tôi muốn ly hôn với chồng tôi, hiện nay vợ chồng tôi đã đạt được thỏa thuận là đồng thuận ly hôn nhưng vì công việc nên chúng tôi không thể lên Tòa án đề giải quyết liên tục, nhiều lần, vì tôi biết thủ tục ly hôn sẽ kéo dài. Vậy tôi muốn được Tòa giải quyết luôn không hòa giải nữa có được không?
Xin Luật Sư tư vấn.

Trả lời:

- Bắt buộc hòa giải tại Tòa án khi ly hôn:

Theo quy định của pháp Luật hôn nhân và gia đình có hai trường hợp ly hôn như sau: Ly hôn thuận tình và ly hôn theo yêu cầu một bên (ly hôn đơn phương).

Theo điều 54, Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về vấn đề hòa giải như sau:

Điều 54. Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Điều 54 quy định: Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, như vậy việc hòa giải khi ly hôn là thủ tục bắt buộc.

Vậy khi hai vợ chồng có đơn yêu cầu ly hôn, ly hôn đơn phương hay ly hôn thuận tình đều phải thực hiện thủ tục hòa giải tại Tòa án.

- Ý nghĩa của việc hòa giải của Tòa án trong ly hôn:

Việc pháp Luật đặt ra thủ tục trong quá trình ly hôn có rất nhiều ý nghĩa về mặt pháp lý, cũng có ý nghĩa không nhỏ về vấn đề nhân văn:

+ Ý nghĩa về pháp lý: Việc hòa giải khi hai vợ chồng ly hôn là thủ tục bắt buộc, để khi giải quyết ly hôn tòa án nắm được vụ việc đưa ra hướng giải quyết tốt nhất cho hai bên, để cho hai bên có thời gian suy nghĩ thỏa thuận với nhau các vấn đề liên quan đến vấn đề ly hôn như: Tài sản chung, quyền nuôi con...Từ đó có thể rút ngắn được quá trình giải quyết ly hôn tại Tòa án, hài hòa được cao nhất lợi ích của cả hai bên.

+ Ý nghĩa về nhân văn: Việc hòa giải ở Tòa án để Tòa án phân tích những điểm đúng, điểm sai của hai bên và từ đó để cho hai vợ chồng có thời gian về suy nghĩ hàn gắn lại. Mục đích cuối cùng của việc hòa giải là mong muốn hai vợ chồng hàn gắn lại, quay lại với nhau.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân có bắt buộc phải hòa giải, gọi: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Không có hộ khẩu trong gia đình có được quyền hưởng di sản thừa kế không ?

2. Tư vấn thủ ly hôn nhưng không còn giấy đăng ký kết hôn ?

Kính chào Luật sư! Luật sư cho tôi hỏi: vợ chồng đã có quyết định ly hôn, nhưng cần bản sao kết hôn để chứng minh thời điểm kết hôn thì UBND phường nơi đã đăng ký kết hôn trước đây có cấp bản sao được không, vì chúng tôi đã làm mất bản chính giấy đăng ký kết hôn?
Cảm ơn!

Ly hôn không có bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Hiện nay theo quy định Luật hôn nhân gia đình 2014 thì để làm thủ tục ly hôn thuận tình bạn phải chuẩn bị hồ sơ bao gồm:

+ Đơn yêu cầu tòa án công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn (theo mẫu/mẫu của Tòa án);

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Sổ hộ khẩu, Chứng minh nhân dân của vợ/chồng (bản sao chứng thực);

+ Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực);

+ Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao chứng thực).

Trong trường hợp này nếu như không cấp được bản chính giấy đăng ký kết hôn thì chị có thể ra UBND cấp xã nơi hai vợ chồng chị đăng ký kết hôn để xin cấp lại bản sao và chị phải gửi kèm hồ sơ tờ trình, chị trình bày rõ lý do tại sao lại không xuất trình được bản gốc giấy đăng ký kết hôn của hai vợ chồng với Tòa án.

Sau đó bạn nộp lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai vợ chồng bạn để được giải quyết. Cụ thể thì thẩm quyền giải quyết được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

Những điều cần lưu ý: Trong trường hợp chị có yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì hai vợ chồng chị sẽ phải nộp tiền tạm ứng án phí tương ứng với hạn mức giá ngạch của tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục ly hôn thuận tình và thẩm quyền giải quyết ?

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới nhất và Phân chia di sản thừa kế ?

3. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn ?

Thưa luật sư, năm nay tôi 24 tuổi và mới sinh em bé được 2 tháng. Vì vợ chồng tôi không hợp và hiểu nhau nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Đôi lúc tôi còn bị chồng bạo hành, đánh đập, ngay cả khi tôi đang mang bầu và ở cữ. Vậy xin hỏi luật sư, nếu ly hôn thì ai sẽ được quyền nuôi con?

Theo như tôi được biết thì con dưới 36 tháng tuổi sẽ được người mẹ nuôi, nhưng xin cho hỏi, vậy sẽ được nuôi mãi mãi hay như thế nào ạ? Trong lúc mang thai và sinh con, tôi nghỉ việc nên bây giờ còn chăm con nên tôi chưa thể đi làm lại được.

Tôi xin cảm ơn nhiều!

Người gửi: Nhi

Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình 1900.6162

Trả lời

Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nếu bạn và chồng không có thỏa thuận khác.

Tuy nhiên, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Cụ thể khoản 2 Điều 84 quy định như sau:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."

Như vậy, Tòa án chỉ giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có một trong các căn cứ nêu trên. Trong trường hợp con trên 7 tuổi thì Tòa sẽ xem xét đến cả nguyện vọng của con.

Hiện tại, do bạn mới sinh con được 2 tháng, chưa đi làm lại nên nếu bạn và chồng không có thỏa thuận khác thì bạn sẽ là người được giao trực tiếp nuôi dưỡng con ít nhất cho đến khi con bạn được 36 tuổi. Sau khi con bạn đủ 36 tháng tuổi, nếu bạn và chồng không có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc bạn không còn đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con nhưng chồng bạn hoặc cá nhân, tổ chức (theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014) có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con không yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thì bạn vẫn được quyền tiếp tục nuôi con.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

4. Làm thế nào khi chồng không chịu ký vào đơn ly hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em và chồng kết hôn năm 2015, hiện tại em đang có bầu 5 tháng. Chồng e đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, và có quan hệ ngoài hôn nhân với người khác. Nhiều lần em khuyên bảo không được, thêm vào đó anh ta lại không hề quan tâm hay chu cấp gì cho mẹ con em. Em đã làm đơn ly hôn mà a ta không chịu kí, tránh nói chuyện với em. Em phải làm sao để ly hôn đc với anh ta ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Theo quy định tịa Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình bạn vẫn có quyền ly hôn đơn phương khi chồng không chịu ký vào đơn.

Thưa luật sư, xin hỏi: vợ chồng tôi thuận tình ly hôn. con tôi 15 tháng tuổi. chồng tôi đòi nuôi con nên tôi đồng ý để cho a nuôi thì a mới đòng ý ly hôn. vợ chồng tôi ly hôn tới giờ đã được 3 tháng nhưng a cấm ko cho tôi sang thăm và ko cho con tôi về chơi với tôi và bố mẹ tôi.tôi sang thăm con thì mẹ a mắng chửi tôi thậm tệ. a còn đe dọa trả thù nữa.a còn chở con tôi đi chơi khi đã uống rượu bia và va chạm xe otô khiến con tôi bị khâu 6 mui ở viện thụy điển .giờ còn nổi mụn nữa a ko thể chăm soc con chu đáo.tôi muốn xin thay doi quyền nuôi con được không ạ ?

=> Điều 84 Luật HNGĐ 2014 có quy định:

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Theo đó, bạn có thể yêu cầu tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con trong trường hợp này.

Kính gửi Cty Luật Minh Khuê, xin hỏi: Tôi có hai câu hỏi mong Luật sư hồi đáp sơm nhất ạ. 1. Hiện vợ chồng tôi đã kết hôn được hơn 9 năm có với nhau hai con chung. Khi kết hôn làm giấy đăng ký tại quê chồng Cần Đước-Long an. Sau đó vợ chồng tôi lên Sài gòn sinh sống và đăng ký hộ khẩu tại Bình Thạnh-TPHCM. Hiện tại vc tôi đã về lại Long an sống nhưng lại đăng ký KT3 tại huyện Bến Lức-Long an và vẫn đang cùng sống ở đây. Vậy cho tôi hỏi muốn nộp đơn ly hôn thì tôi nộp ở đâu là hợp lý nhất ạ. 2. Do chồng tôi ngoại tình về còn hay đánh đập vợ, tôi có nguyện vọng nuôi hai con có được không, hiện bé lớn của tôi đã 8 tuổi.bé nhỏ 4,5 tuổi ạ.

=> Về nơi nộp đơn ly hôn, theo thông tin bạn cung cấp thì bạn có thể nôp đơn ly hôn ở Tòa án huyện Bến Lức- Long An để yêu cầu giải quyết.

Về quyền nuôi con sau ly hôn, nếu bạn thỏa thuận được với chồng thì bạn sẽ có quyền nuôi cả hai con. Tuy nhiên, nếu không thỏa thuận được thì theo quy định Điều 81 Luât HNGĐ 2014 thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và vợ tôi lấy nhau tháng 2 nam 2011 . Tháng 9 nam 2011 có sinh 1 bé gái .cuôc sống 2 vợ chồng sống bt đến tháng 6 nam 2012 . Do mâu thuẫn vợ tôi bế con về ngoại đến tháng 7 2012 tôi và gia đình len xin vợ và con tôi về nhưng vợ t trả con lại cho t và ko về . Vợ tôi bỏ đi từ tháng 6 nam 2012 đến nay vẫn ko có mặt tại nhà tôi. Và sau 5 nam vợ tôi về khởi kiện tranh quyền nuôi con và xin ly hôn. Tôi có đầy đủ bằng chứng chứng minh t đang nuôi con . Và có xác nhận của chính quyền là vợ tôi đã ko có mặt tại địa phương. Vậy nay vợ tôi làm thế có được không ? Xin luật sư tư vấn giúp

=> Trường hợp này vợ bạn vẫn có quyền làm đơn xin ly hôn và Tòa án sẽ vẫn giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kính gửi Luật sư! Hiện tại bạn em đã nộp đơn xin ly hôn đơn phương tại Tòa án nhân dân TX Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Nhưng người vợ không hợp tác và đã bỏ đi, hiện không có mặt tại địa phương. Tòa đã gọi ra lần đầu ngày 12/10/2016, khi đó chỉ có mặt bạn e. Từ đó tới nay không thấy tòa liên hệ gì lại. Khi bạn em gọi tới hỏi thì được trả lời là vụ này rất khó, nếu người vợ không về thì có thể bị đình chỉ không xử được hoặc phải đợi qua 10 tháng mới xử được. Em có tìm hiểu qua luật hôn nhân gia đình thì thấy không phức tạp đến mức như tòa trả lời. Để khỏi bị tòa gây khó khăn và kéo dài thời gian bạn em muốn nhờ bên luật sư tư vấn giải quyết giúp. Như vậy cho em hỏi: - Văn phòng mình có nhận tư vấn các vụ ngoại tỉnh không ạ? - Nếu thuê trọn gói thì như thế nào ạ? - Phí thuê là bao nhiêu và thời gian xử lý mất bao lâu ạ? Vui lòng phản hồi lại sớm giúp em, em đang cần gấp ạ. Em xin cảm ơn!

=> Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì trường hợp người bỏ đi không có măt tại phiên tòa thì đến lần thứ 2 nếu vẫn không có mặt thì Tòa án sẽ xử vắng mặt. Để được giải đáp cụ thể về vấn đề này, bạn có thể liên hệ đến tổng đài 1900.6162 để được hỗ trợ.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

Thưa luật sư! Tôi đang gặp phải một hoàn cảnh như sau: Vợ chồng tôi chung sống với nhau đã được 5 năm.

Trước khi kết hôn, mẹ chồng tôi có nói là sẽ cho chúng tôi sống ở một ngôi nhà khác của bà. Sau khi kết hôn, chúng tôi đã làm thủ tục sang tên, giấy chứng nhận QSDĐ và nhà ở mang tên chồng tôi. Nay vợ chồng tôi ly hôn, tôi muốn hỏi là tài sản ngôi nhà đó sẽ được chia như thế nào?

Rất mong được sự hồi đáp của luật sư! Tôi xin chân trọng cám ơn!

Người hỏi: sunlink

Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

Tư vấn việc phân chia tài sản sau ly hôn gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để biết căn nhà này sẽ được chia như thế nào sau khi bạn và chồng ly hôn? Phải xem xét đây có phải là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hay không?

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Dựa vào quy định này, bạn cần xem xét lại trước đây mẹ chồng thực hiện tặng cho chung cả bạn và chồng hay tặng cho riêng chồng bạn. Trong trường hợp chồng bạn không chứng minh được đây là tài sản được mẹ tặng cho riêng (thừa kế riêng, mua bán riêng), thì dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác đứng tên bạn hay chồng? Thì sẽ đều được coi là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Trong trường hợp, xác định được đây là tài sản chung của bạn và chồng. Vậy sẽ được giải quyết như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này”.

"Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này”.

Trân trọng cám ơn!

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?