1. Tài xế của công ty gây tai nạn thì ai phải bồi thường ?

Thưa luật sư, Tôi làm tài xế xe tải cho một công ty gas, làm được gần 1 tháng, chưa ký hợp đồng lao đồng vì công ty không yêu cầu. Vào ngày 12/10 tôi lái xe làm nhiệm vụ giao hàng cho công ty thì va chạm với xe máy. Trong đó cả 2 điều bị thương nhẹ và đã bình phục sau thời gian điều trị trong bệnh viện. Trong thời gian người bị nạn nằm viện thì tôi luôn có mặt trong bệnh viện theo dõi và chu cấp mọi chi phí ăn uống và thuốc men cho nạn nhân.
Sau khi xuất viện thì gia đình người bị nạn đòi tiền bồi thường 15 triệu ( lương tháng tôi chỉ tầm 3tr5 khi làm) nên tôi hoàn toàn không có khả năng chi trả số tiền đó. Còn về chủ xe bên công ty thì lúc xảy ra tai nạn tới nay không có mặt và cũng không phụ giúp tôi bất kỳ điều gì mà còn làm khó sẽ không chi trả bảo hiểm nếu không lấy xe ra theo yêu cầu của chủ xe. Tôi xin luật sư tư vấn giúp tôi, nếu tôi không bồi thường khoảng tiền 15 triệu như phía nạn nhân yêu cầu thì tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự. Chủ xe có trách nhiệm gì không ?
Tôi xin cảm ơn quý luật sư.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 584. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này."

Nhưng nếu thiệt hại xảy ra hoàn hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì anh trai bạn không phải bồi thường thiệt hại.

Điều 585. Bộ luật dân sự quy định như sau:

"Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình."

Điều 597. Bộ luật dân sự quy định như sau:

"Điều 597. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra

Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật."

Điều 590. Bộ luật dân sự quy định như sau:

"Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định"

Điều 260. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Việc bạn lái xe khi thực hiện công việc cho công ty. Việc bồi thường ở đây là bồi thường do bị thiệt hại về sức khỏe, công ty có nghĩa vụ bồi thường số tiền là 15 triệu theo yêu cầu của bên bị thiệt hại. Vì hành vi gây thiệt hại này là do lỗi của bạn nên bạn có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền mà công ty đứng ra bồi thường thay bạn cho bên bị hại.

Bạn không chấp nhận bồi thường hai bên có thể thương lượng, không thương lượng được bạn có thể yêu cầu tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường. Nhưng nếu thiệt hại xảy ra hoàn hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì bạn không phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp của bạn thuộc trường hợp quy định tại điều 202 Bộ luật hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Mức phạt lỗi lấn tuyến (đi sai làn đường) là bao nhiêu tiền ? Xử lý tai nạn giao thông

2. Giải quyết hậu quả sau tai nạn khi không gây ra tai nạn?

Kính chào luật sư, luật sư cho tôi hỏi vấn đề sau: Khi tôi điều khiển ôtô tham gia giao thông, đi đúng làn đường quy định. Đột ngột có người phụ nữ 17 tuổi điều khiển xe máy đi ngược chiều và đi sang làn đường xe tôi đang chạy. Do đoạn đường cong, tầm nhìn hạn chế nên người đó đã đâm xe trực diện với xe của tôi.
Hậu quả của vụ tai nạn là người phụ nữ bị thương khá nặng về phần mặt và đầu phải nhập viện, xe tôi thì bị hư hỏng nặng phần đầu, còn chiếc xe máy thi bị hỏng hoàn toàn. Vậy theo pháp lý tôi có phải chịu trách nhiệm gì không? Và hướng giải quyết như thế nào?
Mong luật sư giúp đỡ và tôi xin cảm ơn!
Người gửi: P.T

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Bên cạnh đó, Luật giao thông đường bộ 2008 cũng quy định tại điều 3 khoản 18 như sau:

"Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự."

Theo đó, xe ô tô là một phương tiện giao thông cơ giới và được xếp vào loại nguồn nguy hiểm cao độ. Theo khoản 3 điều 623 đã nêu trên, khi xảy ra thiệt hại thì bạn - tức chủ sở hữu và là người sử dụng ô tô lúc đó, phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngay cả khi bạn không có lỗi, trừ trường hợp: thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại (ví dụ người thiệt hại có ý định tự tử,...); thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong trường hợp của bạn, lý do đường cong, tầm nhìn bị hạn chế không thể xếp vào trường hợp bất khả kháng hay do tình thế cấp thiết, vì vậy, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người gây tai nạn thì bạn không phải chịu trách nhiệm bồi thường mà bên gây tai nạn sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bạn. Ngược lại, nếu thiệt hại xảy ra không hoàn toàn do lỗi của bên gây tai nạn thì cả hai bên đều có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên còn lại sau khi đã thỏa thuận một cách thỏa đáng.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Có được đi vào làn đường bên trong sát lề bên phải không ? Lỗi đi sai làn đường

3. Người đi xe máy điện gây tai nạn có phải bồi thường không ?

Chào Luật sư Công ty luật MInh KHuê , Tại vị trí nút giao thông đường làng(đường thôn,xóm) giao nhau với đường cấp huyện(đường ưu tiên) tại vị trí nút giao nhau không có đèn báo hiệu, biển báo hiệu hay vạch sang đường.
Khi Bố em đang dắt con bò sang đường thì bị một cậu học sinh đi xe máy điện đâm vào khiến bố em phải nhập viện và đi cấp cứu. Bố em bị đâm khi chưa sang được phần đường bên kia, tại vị trí nút giao thông giao nhau tuyến đường cấp huyện rất thẳng, không có khúc ôm cua, không bị cản trở tầm nhìn. Cậu học sinh kia đi xe máy điện không đội mũ bảo hiểm, khi gây tai nạn không cứu giúp bố em. vậy xin luật sư cho em hỏi là trong trường hợp này thì ai sai, ai đúng thế nào ạ? và để bảo vệ, biện hộ cho trường hợp của bố em ( người bị xe đâm vào) thì có những cơ sở nào, dựa vào đâu, những căn cứ điều nào của pháp luật ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự qua tổng đài :1900.6162

Trả lời:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Luật Minh Khuê, trường hợp của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, với những thông tin bạn chia sẻ trên chưa thể xác định được ai đúng, ai sai trong trường hợp này. Tuy nhiên, người gây ra thiệt hại là cậu học sinh vẫn phải bồi thường theo quy định tại Điều 623 Bộ Luật dân sự 2005 (văn bản thay thế: Bộ Luật dân sự năm 2015):

"3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Thứ hai, theo trường hợp của bố bạn, tại Khoản 1 điều 604 Bộ Luật Dân sự 2005 đã quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là:

“1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường."

Điều 609 BLDS quy định:

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Như vậy, với những thông tin bạn chia sẻ trên, hành vi gây tai nạn của cậu học sinh đã xâm phạm đến sức khỏe của bố bạn, gây thiệt hại về mặt thể chất và vật chất. Vậy nên, cậu học sinh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bố bạn. Nếu chưa đến tuổi vị thành niên (18 tuổi) người đại diện đương nhiên hiện tại là bố, mẹ cậu bé phải thực hiện nghĩa vụ trên theo quy định tại Điều 606 BLDS. Về hình thức bồi thường và mức bồi thường thiệt do 2 bên thỏa thuận với nhau theo Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Bộ luật Dân sự 2005:

"1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 .

>> Xem thêm:  Ý nghĩa của vạch kẻ đường ? Đi sai làn đường bị phạt bao nhiêu tiền ?

4. Quy định về bồi thường khi gây tai nạn giao thônq như thế nào ?

Thưa Luât sư! Cách đây ít bữa chồng em có va chạm với một anh đi xe máy ( chồng em cũng đi xe máy). Chồng em đi đúng làn đường, không rượu bia, giấy tờ xe đầy đủ, đi chậm. Khi đang đi có một anh đi xe máy với tốc độ cao đi ngược đường đâm vào. Do chồng em đi chậm nên chỉ bị xây xát nhẹ còn anh kia bị nặng nát hết mặt.
Lúc xảy ra tai nạn có người làm chứng chồng em đi đúng đường, lúc đưa họ đi cấp cứu thì có người khác đưa đi vì công an giữ chồng em lại để lập hồ sơ. Bây giờ công an muốn hai bên tự thương lượng thì chồng em muốn hỗ trợ nhà anh kia 5 triệu đồng nhưng họ không đồng ý mà họ nói anh kia tỉnh dậy nói bị đâm từ phía sau nhưng công an nói không thể bị đâm từ đằng sau được. (Anh kia có nói anh ý có đi uống bia về). Họ nói muốn đưa ra công an. Vậy luật sư cho em hỏi trường hợp ra công an chồng em có phải bồi thường cho gia đình anh kia không?
Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Bộ luật dân sự 2015

"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này."

Theo đó, trong trường hợp này, bạn phải có trách nhiệm bồi thường cho bên bị thiệt hại. Khoản tiền bồi thường sẽ do hai bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được hai bên có quyền khởi kiện lên Tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu xác định khoản tiền bồi thường.

Theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về việc xác định các khoản bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm như sau:

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

a) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS.

b) Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được thực hiện như sau:

Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không. Nếu có thì tổng số thu nhập là bao nhiêu.

Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 này. Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.

Ví dụ 1: A làm nghề sửa xe máy tự do. Thu nhập thực tế của A trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là một triệu đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, A phải điều trị nên không có khoản thu nhập nào. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của A bị mất.

Ví dụ 2: B làm công cho một công ty trách nhiệm hữu hạn. Thu nhập thực tế của B trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 600 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50% tiền lương là 300 ngàn đồng. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của B mỗi tháng bị giảm sút 300 ngàn đồng.

Ví dụ 3: C là công chức có thu nhập hàng tháng ổn định 500 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, C phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đủ các khoản thu nhập cho C. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của C không bị mất.

1.3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.

b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.

- Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.

1.4. Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

a) Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.

b) Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.

1.5. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.

b) Trong mọi trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân.

c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Dựa vào những căn cứ trên, bạn có thể đối chiếu vào trường hợp của mình về mức bồi thường hợp lý phù hợp với quy định của pháp luật

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Xe máy, ô tô đi sai làn đường bị xử phạt như thế nào ?

5. Gây tai nạn chết người, cách xác định mức bồi thường như thế nào ?

Thưa luật sư, nhờ luật sự tư vấn giúp mình: Sự việc một vụ tai nạn gây chết người lỗi bên anh A hoàn toàn sai, và nhà Chị B là người bị hại chồng chết trong vụ tai tạn mà A gây ra.
Gia đình B không muốn khởi tố hình sự mà chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại (gia đình Chị B có 2 đứa con 1 mới 6 tuổi, 1 đứa 3 tuổi, chồng chị chết trong tai nạn giao thông là lao động chính trong gia đình). Vậy tôi muốn hỏi mức cấp dưỡng và bồi thường mà bên chị B yêu cầu được bao nhiêu tiền?

Luật sư tư vấn:

Căn cứ vào điều 591 Bộ luật dân sự 2015 hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi tính mạng bị xâm hại như sau:

"Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

Hiện nay luật không quy định mức cấp dưỡng cụ thể là bao nhiêu nhưng người gây thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho những người phụ thuộc cho những người con chưa đủ 18 tuổi đến khi họ đủ 18 tuổi, bố mẹ của người chết đến khi họ chết nếu người chết này trước khi chết họ đang có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Bên cạnh đấy bồi thường các chị phí cho việc mai táng ở đây được tính bao gồm : các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ... Cái này sẽ do người nhà chứng minh và yêu cầu bồi thường.

Ngoài ra thân nhân của người chết sẽ được yêu cầu bù đắp một khoản tổn thất một tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì sẽ bồi thường một mức tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định.

Hiện nay mức lương tối thiểu do nhà nước quy định là 1.150.000.000 đồng.

Những điều cần lưu ý: Người gây tai nạn vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 202 Bộ luật hình sự mà không phụ thuộc vào người bị hại có đơn yêu cầu.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi gây tai nạn ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Vật nuôi gây tai nạn giao thông thì chủ có phải bồi thường không ?