1.Tài xế của công ty gây tai nạn thì ai bồi thường?
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:
Điều 584. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:
"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này."
Điều 585. Bộ luật dân sự quy định như sau:
"Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
.."
Điều 597. Bộ luật dân sự quy định như sau:
"Điều 597. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật."
Điều 590. Bộ luật dân sự quy định như sau:
"Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
...
Điều 260. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau:
"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
...
Việc bạn lái xe khi thực hiện công việc cho công ty. Việc bồi thường ở đây là bồi thường do bị thiệt hại về sức khỏe, công ty có nghĩa vụ bồi thường số tiền là 15 triệu theo yêu cầu của bên bị thiệt hại. Vì hành vi gây thiệt hại này là do lỗi của bạn nên bạn có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền mà công ty đứng ra bồi thường thay bạn cho bên bị hại.
Bạn không chấp nhận bồi thường hai bên có thể thương lượng, không thương lượng được bạn có thể yêu cầu tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường. Nhưng nếu thiệt hại xảy ra hoàn hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì bạn không phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp của bạn thuộc trường hợp quy định tại điều 260 Bộ luật hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trân trọng./.
2. Giải quyết hậu quả sau khi gây ra tai nạn?
Trả lời:
Bộ luật dân sự 2015 có quy định:
"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.
..."
Bên cạnh đó, Luật giao thông đường bộ 2008 cũng quy định tại điều 3 khoản 18 như sau:
"Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự."
Theo đó, xe ô tô là một phương tiện giao thông cơ giới và được xếp vào loại nguồn nguy hiểm cao độ. Theo khoản 3 điều 623 đã nêu trên, khi xảy ra thiệt hại thì bạn - tức chủ sở hữu và là người sử dụng ô tô lúc đó, phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngay cả khi bạn không có lỗi, trừ trường hợp: thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại (ví dụ người thiệt hại có ý định tự tử,...); thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp của bạn, lý do đường cong, tầm nhìn bị hạn chế không thể xếp vào trường hợp bất khả kháng hay do tình thế cấp thiết, vì vậy, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người gây tai nạn thì bạn không phải chịu trách nhiệm bồi thường mà bên gây tai nạn sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bạn. Ngược lại, nếu thiệt hại xảy ra không hoàn toàn do lỗi của bên gây tai nạn thì cả hai bên đều có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên còn lại sau khi đã thỏa thuận một cách thỏa đáng.
3.Người đi xe máy điện gây tai nạn có bồi thường không?
Trả lời:
Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Luật Minh Khuê, trường hợp của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:
Thứ nhất, với những thông tin bạn chia sẻ trên chưa thể xác định được ai đúng, ai sai trong trường hợp này. Tuy nhiên, người gây ra thiệt hại là cậu học sinh vẫn phải bồi thường theo quy định tại Điều 601Bộ Luật dân sự năm 2015:
"3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."
Thứ hai, theo trường hợp của bố bạn, tại Khoản 1 điều 584 Bộ Luật Dân sự 2015 đã quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là:
“1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường."
Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
"Điều 589. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
...."
Như vậy, với những thông tin bạn chia sẻ trên, hành vi gây tai nạn của cậu học sinh đã xâm phạm đến sức khỏe của bố bạn, gây thiệt hại về mặt thể chất và vật chất. Vậy nên, cậu học sinh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bố bạn. Nếu chưa đến tuổi vị thành niên (18 tuổi) người đại diện đương nhiên hiện tại là bố, mẹ cậu bé phải thực hiện nghĩa vụ trên theo quy định tại Điều 586 BLDS. Về hình thức bồi thường và mức bồi thường thiệt do 2 bên thỏa thuận với nhau theo Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Bộ luật Dân sự 2015:
"1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."
4. Bồi thường khi gây tai nạn giao thông như thế nào?
Trả lời:
Theo Bộ luật dân sự 2015
"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
..."
Theo đó, trong trường hợp này, bạn phải có trách nhiệm bồi thường cho bên bị thiệt hại. Khoản tiền bồi thường sẽ do hai bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được hai bên có quyền khởi kiện lên Tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu xác định khoản tiền bồi thường.
Theo Nghị quyết số 03 năm 2016 của hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về việc xác định các khoản bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm như sau:
Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:
1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).
1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.
a) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS.
b) Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được thực hiện như sau:
Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không. Nếu có thì tổng số thu nhập là bao nhiêu.
Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 này. Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.
Dựa vào những căn cứ trên, bạn có thể đối chiếu vào trường hợp của mình về mức bồi thường hợp lý phù hợp với quy định của pháp luật
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh Khuê