Trong quá trình tố tụng hình sự, tạm giữ và tạm giam là hai biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân, vốn được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 và 2025 (sau đây gọi là BLTTHS 2015), việc áp dụng các biện pháp này phải tuân thủ các trình tự, điều kiện và thời hạn vô cùng chặt chẽ. Đối với thân nhân và những người đang tham gia tố tụng, việc hiểu rõ các quy định pháp luật về khái niệm, căn cứ áp dụng, thẩm quyền và đặc biệt là thời hạn của hai biện pháp này là vô cùng quan trọng.  

1. Khái niệm tạm giam và tạm giữ

1.1. Tạm giam là gì?

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc hơn tạm giữ, được áp dụng sau khi một người đã bị khởi tố bị can (trong giai đoạn điều tra, truy tố) hoặc đã có tư cách là bị cáo (trong giai đoạn xét xử). Mục đích của tạm giam là để ngăn chặn bị can, bị cáo bỏ trốn, cản trở điều tra, hoặc tiếp tục phạm tội, đồng thời đảm bảo sự có mặt của họ trong các hoạt động tố tụng.

Việc áp dụng tạm giam phải dựa trên các căn cứ chặt chẽ được quy định tại Điều 119 BLTTHS 2015.

Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng: Theo Khoản 1, Điều 119, biện pháp tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (mức án cao nhất trên 15 năm tù, chung thân hoặc tử hình) hoặc tội rất nghiêm trọng (mức án cao nhất từ trên 07 năm đến 15 năm tù).2 Đối với nhóm tội phạm này, tính chất nguy hiểm của hành vi thường là căn cứ đủ để xem xét tạm giam.

Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng: Theo Khoản 2, Điều 119, việc tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng (mức án cao nhất từ trên 03 năm đến 07 năm tù) hoặc tội ít nghiêm trọng (mức án cao nhất đến 03 năm tù) mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm chỉ được áp dụng khi có một trong các căn cứ sau:

  • Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (như cấm đi khỏi nơi cư trú) nhưng vi phạm.
  • Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch, nhân thân.
  • Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
  • Tiếp tục phạm tội.
  • Có hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử, ví dụ: mua chuộc, cưỡng ép người khác khai báo gian dối; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ; đe dọa, khống chế người làm chứng, bị hại.

Đối với tội phạm ít nghiêm trọng (án tù đến 02 năm): Theo Khoản 3, Điều 119, đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm, chỉ được tạm giam nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

1.2. Tạm giữ là gì?

Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được áp dụng ngay sau khi một người bị bắt giữ theo các trường hợp do pháp luật quy định, nhằm mục đích xác minh, củng cố tài liệu, chứng cứ ban đầu để xem xét việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1, Điều 117 BLTTHS 2015, cơ quan có thẩm quyền chỉ được áp dụng biện pháp tạm giữ đối với các trường hợp sau đây :

  • Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp: Đây là trường hợp một người bị giữ khi có căn cứ cho rằng họ đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; hoặc khi có người bị hại/người có mặt tại hiện trường trông thấy và xác nhận; hoặc khi có dấu vết của tội phạm trên người hoặc tại nơi ở của người đó.
  • Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang: Đây là trường hợp một người bị bắt khi đang thực hiện hành vi phạm tội, hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt.
  • Người phạm tội tự thú, đầu thú: Đây là trường hợp người tự nguyện ra khai báo về hành vi phạm tội của mình (tự thú) hoặc tự nguyện ra trình diện sau khi bị truy nã (đầu thú).
  • Người bị bắt theo quyết định truy nã: Đây là trường hợp bắt giữ đối tượng đang lẩn trốn theo quyết định truy nã của cơ quan có thẩm quyền.

Cần lưu ý rằng, không phải mọi trường hợp bắt giữ đều áp dụng biện pháp tạm giữ, mà chỉ áp dụng khi xét thấy cần thiết nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc cản trở điều tra.

2. Phân biệt tạm giam và tạm giữ 

Nhiều người thường nhầm lẫn giữa hai khái niệm "tạm giữ""tạm giam". Về bản chất pháp lý, đây là hai biện pháp ngăn chặn áp dụng ở các thời điểm khác nhau và có mức độ pháp lý khác nhau. Tạm giữ thường xảy ra trước khi một người bị khởi tố, trong khi tạm giam áp dụng sau khi một người đã có tư cách là bị can, bị cáo.

Việc phân biệt rõ ràng hai biện pháp này giúp thân nhân xác định đúng tình trạng pháp lý của người nhà mình, từ đó có những bước chuẩn bị và bảo vệ phù hợp.

Tiêu chí Tạm giữ Tạm giam
Khái niệm/Bản chất

Là biện pháp ngăn chặn do cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, tự thú, đầu thú hoặc bị bắt theo quyết định truy nã.

Là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với bị can, bị cáo (người đã bị khởi tố về hình sự) để đảm bảo mục đích của quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Đối tượng áp dụng

1. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

2. Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.

3. Người phạm tội tự thú, đầu thú.

4. Người bị bắt theo quyết định truy nã.

1. Bị can (người bị khởi tố, đang trong giai đoạn điều tra, truy tố).

2. Bị cáo (người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử).

Căn cứ pháp lý Điều 117, 118 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Điều 119, 120 (và các Điều 173, 240, 277) Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Thời hạn (Tối đa)

Tổng thời hạn tối đa không quá 09 ngày (bao gồm 03 ngày lần đầu và 02 lần gia hạn, mỗi lần không quá 03 ngày).

Phụ thuộc vào giai đoạn tố tụng (điều tra, truy tố, xét xử) và loại tội phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng). Thời hạn có thể kéo dài nhiều tháng.
Thẩm quyền quyết định

Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội... (Quyết định gia hạn phải được Viện kiểm sát phê chuẩn).

Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (lệnh tạm giam phải được Viện kiểm sát phê chuẩn); Chánh án, Phó Chánh án Tòa án....

3. Thời hạn tạm giữ người 

Thời hạn tạm giữ được quy định rất nghiêm ngặt tại Điều 118 BLTTHS 2015, nhằm đảm bảo quyền con người và hạn chế tối đa việc lạm dụng việc giữ người. Đối với thân nhân, đây là giai đoạn "vàng" (tối đa 09 ngày) để liên hệ luật sư và hỗ trợ pháp lý, vì đây là lúc cơ quan điều tra đang trong quá trình ra quyết định có khởi tố hay không.

  • Thời hạn lần đầu: Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày, kể từ thời điểm Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải về trụ sở của mình.
  • Gia hạn tạm giữ lần thứ nhất: Trong trường hợp cần thiết (ví dụ: cần thêm thời gian để giám định, xác minh...), người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ. Thời gian gia hạn không quá 03 ngày.
  • Gia hạn tạm giữ lần thứ hai: Trong trường hợp đặc biệt (ví dụ: vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều đối tượng...), người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn lần thứ hai. Thời gian gia hạn lần này cũng không quá 03 ngày.

Căn cứ Khoản 2, Điều 118 BLTTHS 2015, mọi trường hợp gia hạn tạm giữ (cả lần thứ nhất và lần thứ hai) đều bắt buộc phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Cơ quan điều tra phải gửi hồ sơ đề nghị gia hạn và Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn (hoặc không phê chuẩn) trong thời hạn 12 giờ.

Như vậy, tổng thời hạn tạm giữ tối đa, kể cả hai lần gia hạn, là 09 ngày.

Nếu hết thời hạn tạm giữ mà không đủ căn cứ khởi tố bị can, cơ quan điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Thời gian tạm giữ sẽ được trừ vào thời hạn tạm giam nếu sau đó người này bị khởi tố và tạm giam (một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam).

4. Thời hạn tạm giam theo từng giai đoạn

Không giống như thời hạn tạm giữ cố định (tối đa 09 ngày), thời hạn tạm giam là "động", phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tội phạm và thay đổi theo từng giai đoạn tố tụng (Điều tra - Truy tố - Xét xử).

4.1. Thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra (Điều 173 BLTTHS 2015)

Đây là giai đoạn tạm giam dài nhất, được quy định để phục vụ công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Theo Điều 173 BLTTHS 2015 quy định thời hạn tạm giam và gia hạn tạm giam trong giai đoạn này được quy định chi tiết như sau:

  • Đối với tội phạm ít nghiêm trọng: Thời hạn tạm giam không quá 02 tháng. Có thể được gia hạn 01 lần, thời gian gia hạn không quá 01 tháng.Tổng thời hạn tối đa 03 tháng.
  • Đối với tội phạm nghiêm trọng: Thời hạn tạm giam không quá 03 tháng. Có thể được gia hạn 01 lần, thời gian gia hạn không quá 02 tháng.Tổng thời hạn tối đa 05 tháng.
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng: Thời hạn tạm giam không quá 04 tháng. Có thể được gia hạn 01 lần, thời gian gia hạn không quá 03 tháng.Tổng thời hạn tối đa 07 tháng.
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Thời hạn tạm giam không quá 04 tháng. Có thể được gia hạn 02 lần, mỗi lần gia hạn không quá 04 tháng.Tổng thời hạn tối đa 12 tháng.

Trong trường hợp vụ án đặc biệt phức tạp (nhất là các tội xâm phạm an ninh quốc gia), Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể quyết định gia hạn thêm, nhưng phải đảm bảo có căn cứ.

4.2. Thời hạn tạm giam trong giai đoạn truy tố (Theo Điều 240 BLTTHS 2015)

Sau khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát, thời hạn tạm giam trong giai đoạn truy tố được tính như sau:

Thời hạn tạm giam không được vượt quá thời hạn ra quyết định truy tố. Cụ thể:

  • Đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng: Thời hạn ra quyết định truy tố là 20 ngày.
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng: Thời hạn ra quyết định truy tố là 30 ngày.

Trường hợp vụ án phức tạp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có thể gia hạn thêm, nhưng không quá 10 ngày (đối với tội ít/nghiêm trọng) hoặc không quá 15 ngày (đối với tội rất/đặc biệt nghiêm trọng).

Như vậy, thời hạn tạm giam tối đa trong giai đoạn này dao động từ 20 đến 45 ngày, tùy thuộc vào loại tội.

4.3. Thời hạn tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm (Theo Điều 277 BLTTHS 2015)

Khi Tòa án thụ lý hồ sơ, thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử được quy định như sau:

Thời hạn tạm giam không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Cụ thể :

  • Đối với tội phạm ít nghiêm trọng: Không quá 45 ngày.
  • Đối với tội phạm nghiêm trọng: Không quá 02 tháng (60 ngày).
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng: Không quá 02 tháng 15 ngày (75 ngày).
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Không quá 03 tháng 15 ngày (105 ngày).

Trường hợp vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử (và tương ứng là thời hạn tạm giam) :

  • Gia hạn không quá 15 ngày (đối với tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng).
  • Gia hạn không quá 30 ngày (đối với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng).

5. Các trường hợp không áp dụng tạm giam

Đây là nội dung đặc biệt quan trọng mà thân nhân của người bị buộc tội cần nắm rõ. Khoản 4, Điều 119 BLTTHS 2015 thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, quy định các trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam mà thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác (như bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú).

Các đối tượng sau đây sẽ không bị áp dụng biện pháp tạm giam, trừ khi có căn cứ đặc biệt:

  • Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
  • Người già yếu (theo quy định chung là người từ đủ 70 tuổi trở lên).
  • Người bị bệnh nặng (có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên).

Điều kiện để các đối tượng trên được áp dụng biện pháp thay thế là họ phải có nơi cư trú rõ ràng và lý lịch nhân thân tốt. Các đối tượng này vẫn có thể bị tạm giam nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
  • Tiếp tục phạm tội.
  • Phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có căn cứ cho rằng nếu không tạm giam sẽ gây nguy hại đặc biệt cho an ninh quốc gia.
  • Có hành vi cản trở điều tra nghiêm trọng (như mua chuộc, đe dọa nhân chứng, phá hủy chứng cứ).

Nếu người thân thuộc các trường hợp nhân đạo nêu trên, gia đình cần nhanh chóng thu thập các tài liệu chứng minh (ví dụ: giấy xác nhận mang thai, giấy khai sinh của con dưới 36 tháng tuổi, bệnh án, giấy xác nhận của cơ sở y tế) và thông qua luật sư, nộp đơn đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn cho cơ quan tiến hành tố tụng.

6. Thẩm quyền quyết định tạm giam, tạm giữ 

Pháp luật quy định rất rõ các chủ thể có thẩm quyền ra lệnh và phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn này, nhằm đảm bảo cơ chế kiểm soát quyền lực, tránh việc lạm quyền, giam giữ người sai pháp luật.

Thẩm quyền quyết định tạm giữ (Theo Điều 117 BLTTHS 2015):

  • Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp.
  • Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; Đồn trưởng Đồn Biên phòng.
  • Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi đã rời cảng hoặc sân bay.
  • Chỉ huy trưởng của lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư...

 Thẩm quyền quyết định tạm giam (Theo Điều 119 BLTTHS 2015):

  • Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp (áp dụng trong giai đoạn điều tra).
  • Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp (áp dụng trong giai đoạn điều tra và truy tố).
  • Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa (áp dụng trong giai đoạn xét xử).

Đối với tạm giữ lệnh gia hạn tạm giữ của Cơ quan điều tra (CQĐT) bắt buộc phải được VKS cùng cấp phê chuẩn. Đối với tạm giam lệnh tạm giam của CQĐT (trong giai đoạn điều tra) bắt buộc phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý, tính có căn cứ của các lệnh này, đảm bảo việc tạm giữ, tạm giam là đúng người, đúng tội, đúng thủ tục, hạn chế tối đa các trường hợp oan, sai.

Kết luận

Bên cạnh các quyền, người bị tạm giữ, tạm giam có nghĩa vụ chấp hành các quyết định, yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền và tuân thủ Nội quy của cơ sở giam giữ. Tạm giam, tạm giữ là các biện pháp tố tụng phức tạp và được quy định rất chặt chẽ về thời hạn. Việc hiểu rõ các quy định này giúp công dân, đặc biệt là người nhà, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tố tụng.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về tạm giam, tạm giữ, bắt người, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể. Trân trọng./.