1. Quy định về thẩm quyền thanh tra doanh nghiệp nhà nước
Theo quy định hiện hành tại Điều 30 của Nghị định số 49/2014/NĐ-CP, thẩm quyền thanh tra doanh nghiệp nhà nước trong việc chấp hành luật pháp và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu được quy định như sau:
- Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền thanh tra việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp cấp 1 do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và các doanh nghiệp cấp 2.
- Thanh tra của Bộ quản lý ngành:
+ Thanh tra có thẩm quyền thanh tra việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu đối với các doanh nghiệp cấp 1 do Bộ trưởng quyết định thành lập hoặc được chuyển đổi từ các doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ hoặc được giao cho Bộ quản lý và các doanh nghiệp cấp 2. Trong trường hợp các doanh nghiệp cấp 1 do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và Bộ quản lý ngành được giao là cấp trên trực tiếp của Hội đồng thành viên, thì Thanh tra của Bộ tiến hành thanh tra sau khi đã báo cáo và thống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ.
+ Thanh tra có thẩm quyền thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ đối với các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thanh tra.
- Thanh tra của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Thanh tra tỉnh) có thẩm quyền thanh tra việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp cấp 1 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc được chuyển đổi từ các doanh nghiệp nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các doanh nghiệp cấp 2; cũng như thanh tra việc chấp hành pháp luật đối với các doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 29 của Nghị định này khi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao. Trong trường hợp Thanh tra tỉnh không đáp ứng các yêu cầu cần thiết để tiến hành thanh tra, Thanh tra tỉnh có trách nhiệm báo cáo Thanh tra Chính phủ để xem xét, xử lý.
- Thanh tra của sở có thẩm quyền thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của sở đối với doanh nghiệp cấp 1 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc được chuyển đổi từ các doanh nghiệp nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; cũng như việc chấp hành pháp luật chuyên ngành của các doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 29 của Nghị định này khi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao.
Thẩm quyền thanh tra doanh nghiệp nhà nước trong việc chấp hành luật pháp và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu được quy định tại Nghị định số 49/2014/NĐ-CP về giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước trong việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu.
2. Doanh nghiệp chậm đóng BHXH từ 03 tháng trở lên bị tăng cường thanh tra
Tăng cường thanh tra doanh nghiệp chậm đóng BHXH từ 03 tháng trở lên là nội dung tại Công văn 3511/BHXH-TST ngày 18/11/2022 về tăng cường giải pháp thực hiện giảm số tiền chậm đóng BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp những tháng cuối năm 2022 do BHXH Việt Nam ban hành.
Trong thời gian gần đây, Ban Cán sự Đảng và Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đã phát đi nhiều văn bản chỉ đạo về việc thúc đẩy thu hồi và giảm số tiền chậm đóng BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Cụ thể, các văn bản như Công văn số 137-CV/BCSĐ ngày 24/9/2020, Công văn số 106-CV/BCSĐ ngày 21/7/2021, và Nghị Quyết số 317-NQ/BCSĐ ngày 21/10/2022 của Ban Cán sự Đảng BHXH Việt Nam đã được gửi đến Tỉnh ủy, Thành ủy các tỉnh, thành phố Trực thuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh) nhằm đề xuất các biện pháp lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN.
Mặc dù công tác thu hồi số tiền chậm đóng đã có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương gặp khó khăn trong việc giảm số tiền chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN xuống mức thấp nhất. Do đó, BHXH Việt Nam đề xuất các Giám đốc BHXH của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện một số nội dung sau đây một cách quyết liệt:
Theo đó, để phấn đấu giảm số tiền chậm đóng xuống mức thấp nhất, BHXH Việt Nam yêu cầu Giám đốc BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện một số nội dung sau:
- Công khai rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng các doanh nghiệp trốn đóng, chậm đóng BHXH số tiền lớn, thời gian chậm đóng kéo dài;
- Tổ chức các buổi làm việc với doanh nghiệp chậm đóng BHXH để đôn đốc, yêu cầu doanh nghiệp đóng đầy đủ số tiền chậm đóng, không để phát sinh số tiền chậm đóng mới;
- Tăng cường thanh tra chuyên ngành đóng đối với doanh nghiệp chậm đóng từ 03 tháng trở lên, kiên quyết xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm;
Đối với đơn vị đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa thực hiện hoặc cố tình chây ì không thực hiện thì ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền được quy định tại khoản 44 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020.
Nâng cao chất lượng các đoàn thanh tra, kiểm tra, Lãnh đạo BHXH tỉnh, Trưởng các đoàn thanh tra, kiểm tra chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc về kết quả thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm đối với doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra theo quy định.
3. Doanh nghiệp chậm đóng BHXH bị xử lý thế nào?
Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, BHTN tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi chậm đóng BHXH bắt buộc, BHTN.
Bên cạnh đó, tại Khoản 7 Điều 39 Nghị định 12/20222/NĐ-CP quy định biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
- Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc phải đóng cho cơ quan bảo hiểm xã hội;
- Buộc người sử dụng lao động nộp khoản tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng, không đóng, trốn đóng, chiếm dụng tiền đóng
Nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng và khoản tiền lãi của số tiền này tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội
Như vậy, cá nhân khi có hành vi chậm đóng BHXH sẽ bị phạt từ 12% đến 15% tổng số tiền đóng BHXH bắt buộc nhưng không quá 75 triệu đồng. Ngoài ra, còn phải nộp lại số tiền chậm nộp và tiền lãi chậm nộp.
- Đối với tổ chức, mức phạt sẽ gấp 02 lần cá nhân theo khoản 3 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
Xem thêm: Quy định về chế độ nghỉ thai sản ở nam theo luật bảo hiểm xã hội 2014
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Tăng cường thanh tra với doanh nghiệp chậm đóng BHXH từ 03 tháng trở lên mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!