Luật sư tư vấn:

1. Quy định của pháp luật về việc đặt tên, họ cho con

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định thì họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh. trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được hoặc không có thỏa thuận thì sẽ xác lập theo tập quán.

Đồng thời theo quy định của Điều 26 bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền họ tên. Cá nhân có quyền có họ, tên bao gồm cả chữ đệm (nếu có). Họ, tên của một người sẽ được xác định theo họ và tên khai sinh của người đó. Họ của cá nhân sẽ được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo sự thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có sự thỏa thuận thì họ của con sẽ được xác định theo tập quán. Trong trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con sẽ xác định theo họ của mẹ. Nếu trẻ em bị bỏ rơi và chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của đứa trẻ sẽ được xác định theo họ của cha nuôi hoặc là họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp mà chỉ có cha nuôi hoăc là chỉ có mẹ nuôi thì họ của đứa trẻ sẽ được xác định theo họ của người đó. Trong trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo sự đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc là theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng. Cha đẻ, mẹ đẻ theo quy định của pháp luật là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. 

Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự theo quy định cơ bản của pháp luật, cụ thể:

- Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử, được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền thân nhân và tài sản;

- Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng;

- Cá nhân, pháp nhận phải xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực;

- Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác;

- Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Tên của công dân Việt Nam phải bằng Tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký hiệu mà không phải chữ. Cá nhân xã lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình. Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến, lợi ích hợp pháp của người khác. Như vậy, khi đặt tên con, họ của con được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ, nếu không có thỏa thuận thì họ của con sẽ được xác định theo tập quán. 

Bên cạnh đó thì tại Điều 6 Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định về nội dung khai sinh. Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam, không đặt tên quá dài, khó sử dụng. Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ, dân tộc, quê quán của con khi đăng ký khai sinh thì họ, dân tộc, quê quán của con được xác định theo tập quán nhưng bảo đảm theo họ, dân tộc, quê quán của cha hoặc mẹ. 

Như vậy, pháp luật Việt Nam quy định cụ thể về vấn đề đặt tên con khi đứa trẻ mới sinh ra. Việc cha mẹ hay những người đại diện theo pháp luật quy định việc thực hiện việc đặt tên cho con dụa theo quy định của pháp luật hiện hành và phải luôn chú ý đến các quy định trong quá trình đặt tên con bằng tiếng việt hoặc tiếng dân tộc Việt Nam. Pháp luật cũng nghiêm cấm các hành vi đặt tên con bằng số hay chữ số bằng "s" nếu như cha, mẹ cố tình muốn đặt tên con bằng số thì cũng sẽ không được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận. Việc đặt tên con cũng phải đảm bảo không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người  khác và không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. 

 

2. Có thể đặt tên con bằng tiếng nước ngoài hay không?

Căn cứ vào khoản 3 điều 26 bộ luật dân sự năm 2015 thì tên của công dân Việt nam phải bằng Tiếng việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ. Cũng theo quy định tại Điều 16 Luật quốc tịch thì: Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì sẽ có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con. Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam. 

Do đó, nếu con mang quốc tịch Việt Nam thì phải đặt tên bằng Tiếng Việt còn nếu mang quốc tịch nước ngoài thì việc đặt tên sẽ tuân thủ các quy định của nước đó. Dù có cha mẹ là người nước ngoài nhưng lại mang quốc tịch Việt Nam thì vẫn sẽ phải đặt tên con theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nếu cha mẹ muốn đặt tên con bằng tiếng nước ngoiaf thì cần phải thực hiện việc thỏa thuận về việc lựa chọn cho con quốc tịch. Đồng thời thì việc thỏa thuận của cha mẹ về vấn đề đặt tên con chọn quốc tịch cho con phải có sự thỏa thuận được lập bằng văn bản và có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà người đó là công dân về việc chọn quốc tịch cho con phù hợp với quy định của pháp luật. Từ khi đứa trẻ mang quốc tịch nước ngoài thì việc đặt tên con sẽ tuân theo quy định pháp luật của nước đó chư skhoong cần tuân theo quy định về việc đặt tên con của công dân Việt Nam. 

 

3. Tên con phải theo họ bố đúng hay sai?

Theo quy định tại Khoản 2 của Điều 26 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định thì họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ. Nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp mà chưa xác định được cha đẻ thì họ của con sẽ được xác định theo họ của mẹ đẻ. Như vậy khi đặt tên cho con, họ của con thì được xác định là họ của cha hay không sẽ theo sự thỏa thuận của cha mẹ. Nếu như trường hợp không có thảo thuận hoặc không thỏa thuận được thì sẽ tuân theo tập quán địa phương.

Trường hợp con chỉ có mẹ mà chưa xác định làm thủ tục nhận cha con thì họ của con sẽ theo họ của mẹ. 

Trên đây là tư vấn của luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách hàng. Nếu quý khách hàng có bất kỳ vướng mắc hay câu hỏi nào khác liên quan đến vấn đề pháp lý thì vui lòng liên hệ trực tiếp đến Công ty Luật Minh Khuê qua tổng đài tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua số hotline 24/7 qua số hotline1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!