1. Cách chia tài sản thừa kế theo luật ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Hiện tại mình đang vướng vào vụ kiện tụng phân chia tài sản thừa kế do bà nội mình để lại. Cụ thể như sau: - Gia đình mình có 4 người đó là bà nội, bố mẹ mình và mình. - Vào tháng 1/2009 thì bố mình mất, sau đó 4 tháng là tháng 5/2009 thì bà nội cũng mất theo. Hiện tại thì bà dì của mình tức là em của bà nội mình kiện ra tòa để phân chia tài sản của bà nội mình để lại. Vậy mình xin hỏi là trong trường hợp của mình thì bà dì mình có được chia tài sản của bà nội mình không và trong trường hợp của mình thì luật thừa kế thế vị có được áp dụng hay không?
Mình xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Theo như chúng tôi hiểu, bà nội bạn không để lại di chúc, do đó, di sản của bà nội bạn sẽ được chia theo pháp luật. Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Trong trường hợp của bạn, những người thừa kế theo pháp luật của bà nội bạn sẽ là những người thuộc hàng thừa kế thứ hai (bao gồm: bạn - cháu ruột của người chết và người em ruột của người chết). Do đó, người em của bà nội bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện chia thừa kế.

Thưa luật sư, xin hỏi: Mẹ tôi mất năm 1994 có để lại miếng đất, chúng tôi có 6 người anh chị em, chết 2 người hiện nay còn 4. Giờ tôi muốn chia tài sản thừa kế có được không? Và 4 chị em phải làm thủ tục ra sao ? xin luật sư vui lòng chỉ giúp dùm. chúng tôi xin cảm ơn

=> Căn cứ vào Điều 645 BLDS 2005, trường hợp bạn nêu đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Tuy nhiên, nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định:

2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

Do đó, gia đình bạn có thể làm thủ tục khởi kiện Tòa án yêu cầu chia tài sản chung của các đồng thừa kế nhưng các đồng thừa kế phải thừa nhận rằng di sản do người chết để lại chưa chia là tài sản chung của các đồng thừa kế và không có tranh chấp về hàng thừa kế.

Thưa luật sư, xin hỏi: Nếu tôi khởi kiện ra toà việc tranh chấp tài sản thừa kế thì tôi phải nộp án phí phải không?nếu tôi thắng kiện thì có phải được lấy lại tiền án phí không? người bị thua kiện phải trả án phí phải không? nếu xét xử phúc thẩm thì có phải đóng tiếp án phí không? Tôi xin chân thành cám ơn và đợi câu trả lời của quí công ty !!

=> Căn cứ vào Điều 130 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí. Do đó, bạn là người khởi kiện thì bạn có nghĩa vụ đóng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm.

Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án 10/2009/UBTVQH quy định:

Điều 27. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm

1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận.

2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

3. Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận.

4. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận.

5. Bị đơn có yêu cầu phản tố phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận.

6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận. Người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập được Tòa án chấp nhận.

7. Mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản, phần di sản mà họ được hưởng, được chia trong trường hợp các bên đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản mà mình được hưởng trong khối di sản thừa kế và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em muốn hỏi về quyền thừa kế đất đai. Ba em có 2 vợ, vợ trước mất thời gian rồi thì ba em mới lấy mẹ em. Mẹ lớn có 2 người con trai và 4 người con gái. Mẹ em thì chỉ có 2 người con gái. Nhưng giờ ba và mẹ em đã mất nhưng ko có viết lại di chúc và đến giờ thì ba em vẫn đứng tên trên sổ đất. Nhưng gần đây mấy anh chị em con mẹ lớn đòi cắt ra , còn nếu không thì cho anh 3 ( tức con mẹ lớn ) của em đứng tên trên sổ đất. Nhưng em và chị em ( mẹ nhỏ) đều không đồng ý chỉ muốn anh em đồng sử dụng và đồng quyết định chứ ko của riêng ai. Nhưng các anh chị con mẹ lớn đều phản đối và ép 2 chị em em đến cùng. Liệu có đa số thắng thiểu số ko ạ? Mong luật sư tư vấn và giải đáp giúp em.

=> Trong trường hợp này, di sản của ba bạn sẽ được chia theo pháp luật. Căn cứ theo Điều 676 BLDS, những người thừa kế theo pháp luật trong trường hợp của bạn sẽ là 6 người con người vợ đầu tiên và hai chị em bạn. Theo đó, tất cả các giao dịch liên quan đến di sản thì cần phải có sự thỏa thuận của tất cả các đồng thừa kế.

Thưa luật sư, xin hỏi: Bà ngoại tôi có một lô đất gần 1 hecta nằm trên trục đường chính quốc lộ 14 Tp Kon Tum, gồm nhà và đất canh tác trong đó nhà đã có sổ đỏ từ lâu còn đất canh tác thì chưa có sổ đỏ. Sau khi bà mất, không để lại di chúc, cậu tôi sang tên và tự thừa kế nhà từ năm 1999. Xin cho tôi hỏi phần đất canh tác còn lại /chưa có sổ đỏ\, gia đình phía ngoại tôi có được thừa hưởng hay không/ nếu có thì sẽ thừa hưởng như thế nào? Ngoại gồm 3 đứa con; mẹ tôi, cậu, và dì. Chân thành cảm ơn và mong nhận được hồi đáp từ quý báo.

=> Điều 188 Luật đất đai 2013 quy định:

Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

Dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 168 Luật đất đai:

Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trường hợp mảnh đất đó đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mẹ bạn, dì và cậu bạn sẽ được nhận thừa kế quyền sử dụng mảnh đất này. Mỗi người sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi thừa kế nhà và đất do 1 mình tôi đứng tên ( tôi đã có gia đình). Sau đó tôi xây mới lại bằng tiền của tôi (thanh toán qua ngân hàng từ tài khoản cá nhân của tôi) nay đã xong. Nay tôi xin cấp mới sổ hồng. Tôi muốn đứng tên một mình như lúc được thừa kế .Xin luật sư tư vấn giúp. Cám ơn .

=> Theo pháp luật hôn nhân và gia đình, nhà và đất là tài sản bạn nhận được do thừa kế riêng nên đó sẽ là tài sản riêng của bạn và trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ đứng tên một mình bạn.

Thưa luật sư, xin Cho em hỏi tử tù thì có quyền thừa kế không? Và họ có quyền và nghĩa vụ gì?

=> Điều 643 BLDS quy định:

Điều 643. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Theo đó, những người có hành vi quy định tại khoản 1 Điều này sẽ không được quyền hưởng di sản trừ khi người để lại di sản đã biết hành vi của người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Thưa luật sư, xin hỏi: Thừa kế nhà Bố tôi mất đã lâu nay chị e tôi muốn dc sang tên căn nhà của bố tôi để lại cho tôi thì có dc ko?và hết bao nhiêu chi phí vậy a?

= > Trong trường hợp bố bạn không để lại di chúc thì di sản của bố bạn sẽ được chia theo pháp luật theo Điều 676. Những người đồng thừa kế sẽ phải làm thủ tục khai nhận di sản, phân chia di sản tại văn phòng công chứng (mức thu phí công chứng văn bản khai nhận di sản sẽ được tính trên giá trị tài sản theo Thông tư 08/2012/TTLT-BTC-BTP). Sau đó, bạn sẽ làm thủ tục sang tên sổ đỏ (tham khảo tại đây).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Cách chia tài sản thừa kế, từ chối nhận tài sản ?

Thưa luật sư, Nhà tôi có hai anh em và mẹ tôi có một mảnh đất, ông anh đi xa mẹ tôi có di chúc lại mảnh đất cho tôi được toàn quyền thừa hưởng khi mẹ tôi qua đời ,sau khi mẹ tôi qua đời ông anh đòi thừa hưởng nhưng tôi không đồng ý, vậy tôi được thừa hưởng mảnh đất đúng hay là sai và ông anh tôi có được quyền lợi gì không ?

Luật sư tư vấn:

Nếu việc lập di chúc của mẹ bạn là hợp pháp thì bạn đương nhiên được hưởng di sản theo di chúc và theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì anh trai bạn chỉ được hưởng di chúc nếu thuộc trường hợp sau:

" Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

Thưa luật sư, Ba e mất ko để lại di chúc gì hết, nhưng ba e có để lại đất đai nhà cửa. Giờ Má e đã già 70 tuổi rồi, vậy Má e có đứng tên quyền sử dụng đất đó duoc không thưa Luât sư ?

=> Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì khi vợ hoặc chồng chết để lại tài sản thì người vọ có quyền quản lý tài sản chung đó của vợ chồng nhưng không có quyền định đoạt phần tài sản của người chồng đã chết. Trường hợp nếu như đất đai, nhà cửa là tài sản riêng của bố bạn trước thời kỳ hôn nhân thì để mẹ bạn có thể đứng tên trên giấy chứng nhận sử dụng đất phải có sự đồng ý bằng văn bản của các con mới có thể đứng tên trên giấy chứng nhận sử dụng đất hợp pháp.

Thưa luật sư, Bố mẹ Tôi có 2 con một trai và 1 gái. sau khi chết đi để lại một lô đất cùng với nhà ở và tài sản trên đất. Hiện nay Em trai tôi đang sử dụng và muốn chiếm đoạt tất cả. Tôi muốn đòi lại phần thừa kế của mình thì làm thế nào ? (Sổ đỏ Em Tôi giữ không cho xem; và Bố Mẹ Không để lại di chúc). nhờ luật sư tư vấn giùm. Cảm ơn nhiều.

=> Trường hợp này vì bố mẹ bạn mất không để lại di chúc nên bạn có quyền yêu cầu chia tài sản thừa kế theo quy định tại bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

" Điều 674. Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến"

Thưa luật sư, Tôi có đống đất đang ở của bố mẹ tôi để cho tôi, chồng tôi mất năm 1990, tôi có 3 người con gái tôi chia thửa đất ra làm 4 phần, cho 3 con gái mỗi người 1 phần, còn 1 phần đứng tên tôi. vì con gái út có công chăm sóc tôi tuổi già và để sau này ma chay cúng giỗ mồ mả cho tôi, riêng phần đất của tôi tôi di chúc cho con út, sau khi tôi mất đi bản di chúc của tôi cho con gái út đã được UBNN xã đóng dấu, cho tôi hỏi sau khi tôi qua đời con gái út có được toàn quyền sử dụng phần đất của tôi không ? Tôi xin chân thành cảm ơn!

=> Căn cứ quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

" Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực"

Nếu như việc lập di chúc của bạn phù hợp với các điều kiện trên thì sau khi bạn mất di chúc sẽ có giá trị hiệu lực pháp lý và con gái bạn sẽ được sử dụng toàn quyền mảnh đất đó.

Thưa luật sư, Ông bà nội tôi đã mất không để lại di chúc. Ông tôi có 5 người con trai và 3 cô con gái. Trong đó 1 cô đã mất. gia đình không có tranh chấp gì, mảnh đất đứng tên ông nội tôi bây giờ gia đình tôi đang ở (con trai lớn của ông). Nay gia đình tôi muốn sang tên bìa đỏ sang cho bố tôi (con trai lớn của ông nội) thì thủ tục phải làm như thế nào ? Hoặc nếu muốn sang luôn lên cho cháu nội con trai duy nhất của bố tôi thì có được không và thủ tục như thế nào? Rất mong được tư vấn.

=> Trường hợp này để có thể đứng tên trên giấy chứng nhận sử dụng đất thì bố bạn cần có văn bản đồng ý của các chị em còn lại trong gia đình đồng ý cho bố bạn hoặc cho cháu nội toàn quyền sử dụng, định đoạt khối tài sản mà ông nội bạn để lại. Văn bản phải có đầy đủ chữ ký của những người con còn lại. Sau khi có văn bản đó thì bố bạn hoặc cháu nội mới có quyền sang tên giấy chứng nhận sử dụng đất.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Con dâu có được thừa hưởng tài sản thừa kế của Bố chồng ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Bố tôi chuyển nhượng cho con trai rồi, mà chẳng may Bố tôi và chồng tôi mất thì con dâu có được quyền làm chủ sử dụng mảnh đất đó không ạ ?

Xin được cảm ơn!

Con dâu có được thừa hưởng tài sản thừa kế của Bố chồng ?

Luật sư tư vấn chế độ thừa kế tài sản theo luật, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Trường hợp thứ nhất, quyền sử dụng đất ban đầu đứng tên bố của bạn và đã chuyển nhượng cho con trai ( Tức anh em trai của bạn). Thì khi bố bạn và chồng bạn mất thì bạn không được hưởng toàn bộ cũng như một phần giá trị quyền sử dụng đất đó.

- Trường hợp thứ 2, quyền sử dụng đất ban đầu đứng tên bố chồng bạn, đã chuyển nhượng cho con trai ( Tức là chồng bạn).

+ Nếu quyền sử dụng đất là của riêng chồng bạn.

Bố mẹ chồng bạn chỉ cho riêng chồng bạn, khi lập hợp đồng tặng cho và làm thủ tục đăng ký sang tên chỉ có chồng bạn tham gia với tư cách là bên nhận tặng cho. Theo đó, mảnh đất này được coi là tài sản riêng của chồng bạn. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng được quy định tại Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình:

+ Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

+ Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

+ Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

+ Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.

Trong trường hợp này, chồng bạn có toàn quyền thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối với mảnh đất được bố mẹ tặng cho riêng; bạn không có quyền gì đối với mảnh đất này.

Nếu chồng bạn mất mà có di chúc

Theo Điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định, những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng

- Con đã thành niên mà không có khả năng lao động

Như vậy, tại thời điểm mở thừa kế, nếu chồng bạn có di chúc, mà di chúc bạn không được hưởng tài sản gì thì bạn vẫn được hưởng 2/3 một suất thừa kế theo pháp luật.

+ Nếu quyền sử dụng đất là tài sản có được trong thời kì hôn nhân.

Mảnh đất được bố mẹ chồng tặng cho chung hai vợ chồng bạn. Hai vợ chồng bạn cùng nhận tặng cho mảnh đất đó nhưng bạn có văn bản ủy quyền hoặc hai vợ chồng bạn có văn bản thỏa thuận về việc chồng bạn là người đại diện đứng ra làm thủ tục đăng ký sang tên theo quy định của pháp luật; do đó mảnh đất được coi là tài sản chung vợ chồng. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung được quy định tại

Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình:

+ Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

+ Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây: Bất động sản; Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

Theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định về tài sản chung cuả chồng như sau:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung".

Và tại Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm có quy định về tài sản riêng của vợ, chồng cụ thể là:

1. Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

2. Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.”

Trong trường hợp này, 1/2 giá trị quyền sử dụng mảnh đất đó là của bạn. Nếu chồng bạn mất thì khi chia di sản, khi chia quyền sử dụng đất mảnh đất này thì chỉ chia 1/2 quyền sử dụng đất của chồng bạn, và bạn vẫn được hưởng phần thừa kế của mình ở đó. (1/2 giá trị quyền sử dụng đất của bạn không chia)

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Quy định của pháp luật về quyền được hưởng tài sản thừa kế sau khi Mẹ mất ?

Thưa luật sư, Tên tôi là: Trần Xuân Thắng. Sinh năm: 1978. Làm ơn cho tôi hỏi về quy định của pháp luật về vấn đề quyền được hưởng tài sản thừa kế sau khi Mẹ đã chết. Tôi rất mong nhận được thư tư vấn trong thời gian sớm nhất và tôi muốn đến văn phòng luật sư để được giúp đỡ tiếp:
Mẹ tôi đã chết năm 2010. gia đình tôi có 5 người con, 2 trai và 3 gái. Mẹ tôi chết và không để lại Di Chúc gì liên quan đến tài sản thừa kế.
Sau khi Mẹ tôi chết được 1 năm thì Bố tôi đòi lấy vợ và chúng tôi không đồng ý vì người đàn bà mà Bố tôi muốn lấy đó không xứng đáng với gia đình chúng tôi. Chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm những người xứng đáng hơn, nhưng Bố tôi không đồng ý. Cuối cùng Bố tôi vẫn quyết tâm lấy người mà chúng tôi phản đối đó vào tháng 5 năm 2012 (có đăng ký kết hôn theo pháp luật).
Trước và sau khi Bố tôi đã lấy vợ, chúng tôi có đòi quyền hưởng thừa kế tài sản của Mẹ tôi, nhưng Bố tôi không chia, không cho các con gì cả và có ý kéo dài thời gian….cho tới nay chúng tôi muốn đưa việc đòi phân chia tài sản thừa kế của Mẹ chúng tôi ra Tòa án để phân chia theo pháp luật, nhưng tôi chưa biết phải bắt đầu từ đâu.
Vậy làm ơn cho tôi hỏi mấy điều sau:
1. Bố Mẹ tôi gốc Hải Dương, nhưng Bố tôi là Công nhân viên chức nhà nước ở Hà Nội. Vì vậy, Hiện nay Bố tôi mang Hộ Khẩu Hà Nội. Cũng từ đó là Bố Mẹ tôi có sở hữu 1 ngôi nhà ở HN và 1 căn hộ Chung Cư ở HN. Còn ở Hải Dương có 1 ngôi nhà và 2 mảnh đất. Vậy chúng tôi phải đề nghị phân chia tài sản trên ở đâu? Tòa Án Hà Nội hay Tòa Án Hải Dương, hay ở cả 2 nơi theo vị trí của tài sản thừa kế đó? (* người đứng tên sở hữu tài sản trên có nơi mang tên Bố tôi và có nơi mang tên Mẹ tôi).
2. Ngoài số tài sản trên thì còn có Tiền Tiết Kiệm gửi nghân hàng (do Bố tôi cầm và gửi nghân hàng đứng tên Bố tôi), ngoài ra còn có đồ trang sức của Mẹ tôi để lại.
3. Theo quy định của pháp luật thì việc phân chia tài sản thừa kế trong trường hợp như gia đình tôi thì sẽ được phân chia như thế nào?
4. Theo tôi tìm hiểu thì tất cả tài sản sẽ được chia đôi, Bố tôi được hưởng ½ tổng số tài sản trên. Còn ½ phần của Mẹ tôi thì phải chia 6 phần cho 5 người con và Bố tôi cũng có quyền được hưởng 1 phần trong phần tài sản của Mẹ tôi đó. Có đúng là như vậy không?
Thực ra chúng tôi không muốn phải đưa ra pháp luật/Tòa án và thậm chí không cả muốn phải phân chia tài sản, nhưng vì Bố tôi lấy người không xứng đáng với gia đình chúng tôi.
Tôi có đọc: Điều 686 và khoản 3 Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc hạn chế việc phân chia di sản thừa kế như sau: Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định, thời hạn này không quá 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Việc phân chia này không ảnh hưởng gì đến đời sống của Bố tôi, vì Bố tôi hiện có Lương hưu khoảng 6-7 triệu/tháng. Mặt khác, Bố tôi cũng đã kết hôn với người khác. Vì vậy chúng tôi có quyền đòi phân chia tài sản thừa kế của Mẹ chúng tôi và có thể đề nghị Tòa án giải quyết việc phân chia tài sản trên, có đúng không?
Xin cảm ơn nhiều!

Người gửi: hdr

Các vấn đề pháp lý liên quan đến chia tài sản thừa kế, từ chối nhận tài sản ?

Quyền thừa kế theo quy định của pháp luật - Ảnh Minh Họa

Trả lời:

Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phân chia tài sản thừa kế

Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự số 24/ 2004/ QH11 quy định những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

"...5. Tranh chấp về thừa kế tài sản...."

Điều 33: Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

"1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;..."

Khoản 1 điều 35: "Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

c) Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản."

Điều 4. Quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.

Theo đó, anh em bạn có quyền nộp đơn yêu cầu phân chia tài sản thừa kế cụ thể bạn có thể gửi đơn đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi gia đình bạn có đất, nhà ở Hà Nội hoặc Hải Dương để yêu cầu chia thừa kế. Tuy nhiên vì tải sản chia thừa kế ngoài bất động sản còn có các loại tài sản khác đó là sổ tiết kiệm ngân hàng và đồ trang sức của mẹ bạn nên tôi khuyến nghị bạn nên nộp đơn đến tòa án nhân dân cấp huyện tại Hà Nội nơi bố bạn đang sống.

Thứ hai, tài sản chia thừa kế

Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014 tại điều 33 có quy định:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo đó, mặc dù bất động sản có nơi đứng tên bố bạn có nơi đứng tên mẹ bạn vầ sổ tiết kiệm đứng tên bố bạn nhưng nếu bố bạn hay các bạn không chứng minh được những tài sản đó là tài sản riêng của bố hay mẹ bạn được hình thành từ các nguồn như thừa kế riêng, tặng cho riêng hay được chia riêng cho bố mẹ bạn trong thời kì hôn nhân,... thì những tài sản đó được xem là tài sản chung của bố mẹ bạn. Khi mẹ bạn mất thì toàn bộ tài sản trên gồm nhà đất ở Hải Dương, nhà chung cư ở Hà Nội, sổ tiết kiệm ngân hàng và đồ trang sức của mẹ bạn được chia đôi một phần là của bố bạn một phần là của mẹ bạn được mang ra làm tài sản chia thừa kế.

Thứ ba, việc phân chia thừa kế

Ở đây mẹ bạn chết không để lại di chúc nên tài sản sẽ được chia theo pháp luật.

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

...2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau..."

Theo đó, những người được hưởng thừa kế trong trường hợp này gồm có bố bạn và năm anh em bạn. Tài sản thừa kế được chia thành 6 phần mỗi người được hưởng một phần như nhau.

Trân trọng!

>> Tham khảo dịch vụ: Dịch vụ soạn thảo và công chứng hợp đồng

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Cách giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế theo luật ?

Luật Minh Khuê giải đáp và Hướng dẫn giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế theo luật dân sự và những vấn đề pháp lý liên quan:

Luật sư phân tích:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

Thưa luật sư, Vào tháng 12 năm 2004 lúc mẹ tôi còn sống có họp gia đình và thống nhất với 2 anh và 1 chị đã ra ở riêng đồng ký cho tặng tôi ngôi nhà mẹ và tôi đang ở cho vợ chồng tôi đứng quyền sở hữu chủ. Hợp đồng được lập tại phòng công chứng nhà nước. Đến nay vì làm ăn thất bại tôi chuyển nhượng người khác để mua căn nhà nhỏ hơn để trả nợ ngân hàng. Nhưng các anh chị không đồng ý và đòi khởi kiện. Xin nói thêm là khi ra riêng mẹ chúng tôi đều cho nhà hoặc đất để các anh chị ra ở riêng. Căn nhà tôi đang ở tôi tự xây dựng không có sự đóng góp nào của các anh,chị. Như vậy tôi có vi phạm luật chuyển nhượng nhà ở không?

=> Hợp đồng công chứng có hiệu lực pháp luật và bạn có hoàn toàn quyền sở hữu đối với căn nhà này. Vậy việc bạn chuyển nhượng căn nhà cho người khác là không vi phạm pháp luật.

Thưa luật sư, Tôi có một người cô tên M và chồng tên H đã mất 2012. Năm 2007 thì 2 vợ chồng cô M có mua 1 mảnh đất của ông S, đã có bìa đỏ tên ông S. hợp đồng chuyển nhượng và các giấy tờ liên quan đều theo mẫu và có xác nhận của UBND xã, nhưng chưa sang tên cho vợ chồng cô M. Nay cô M có nhu cầu chuyển nhượng mảnh đất này nên muốn sang tên cho cô M, nhưng chồng cô là ông H đã mất nên không thể sang tên cho 2 vợ chồng cô được. Hàng thừa kế thứ nhất của ông H bao gồm : mẹ ruột, vợ và 2 con trai. Vậy xin hỏi luật sư là bây giờ muốn làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho cô M thì cần những giấy tờ gì và phải làm như nào?

=> Điều 8, Khoản 2, 3, 4 Điều 11, Điều 12 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường : Quy định về hồ sơ địa chính quy định:

"Điều 8. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu
1. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu gồm có:
a) Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Mẫu số 04/ĐK;
b) Một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) đối với trường hợp đăng ký về quyền sử dụng đất;
c) Một trong các giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đối với trường hợp đăng ký về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp đăng ký về quyền sở hữu nhà ở hoặc công trình xây dựng thì phải có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng đã có sơ đồ phù hợp với hiện trạng nhà ở, công trình đã xây dựng);

d) Báo cáo kết quả rà soát hiện trạng sử dụng đất đối với trường hợp tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 theo Mẫu số 08/ĐK;

đ) Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến việc miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất (nếu có);

e) Đối với đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh thì ngoài giấy tờ quy định tại các Điểm a, b và d Khoản này phải có quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an về vị trí đóng quân hoặc địa điểm công trình; bản sao quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh trên địa bàn các quân khu, trên địa bàn các đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mà có tên đơn vị đề nghị cấp Giấy chứng nhận;

g) Trường hợp có đăng ký quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề phải có hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án nhân dân về việc xác lập quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề, kèm theo sơ đồ thể hiện vị trí, kích thước phần diện tích thửa đất mà người sử dụng thửa đất liền kề được quyền sử dụng hạn chế. "

Thưa luật sư, Tôi lấy chồng được một năm. Hiện nay hai vợ chồng tôi đang sống cùng mẹ đẻ của tôi vì chồng tôi quê xa mà tôi là con một nên vợ chồng tôi ở chung với mẹ để tiện chăm sóc mẹ (bố tôi đã mất) .Ngôi nhà mà hiện nay chúng tôi đang sống là tài sản riêng của mẹ tôi và mẹ tôi đứng tên giấy GCN quyền sử dụng đất. Gần đây do tuổi cao sức yếu nên mẹ tôi muốn sang tên cho tôi nhưng mẹ tôi đang phân vân một vấn đề. Nếu bà chuyển cho mình tôi đứng tên thì sợ chồng tôi sẽ có cảm giác tự ái vì bị coi như người ngoài. Còn nếu để cả hai vợ chồng cùng đứng tên thì bà sợ một ngày nào đó vợ chồng tôi có xảy ra chuyện gì thì lại liên đới đến việc phân chia tài sản vì khi cả hai vợ chồng cùng đứng tên giấy GCN quyền sử dụng thì lúc đó căn nhà sẽ là tài sản chung của hai vợ chồng. Vậy tôi xin luật sư giúp tôi tư vấn giúp tôi xem nên làm cách nào là tốt nhất - Cách 1: Mẹ tôi vẫn đứng tên GCN quyền sử dụng .Khi nào bà mất thì tôi sẽ được thừa kế lại tại sản của bà( Khi đó tôi làm giấy tờ đất có bắt buộc phải đứng tên cả vợ chồng không và thủ tục có phức tạp không ?) - Cách 2 : Mẹ tôi sang tên cho tôi nhưng không cho chồng tôi biết (Khi bà sang tên cho tôi có bắt buộc phải cần chữ ký của chồng tôi không?)

=> Cách 1: Khi mẹ bạn mất, tài sản thừa kế một mình bạn được hưởng, không bắt buộc phải đứng tên hai vợ chồng.

Cách 2: Mẹ sang tên cho một mình bạn trong thời kì hôn nhân được, không cần có chữ ký của chồng.

Thưa luật sư, Gia đình tôi hiện tại có 6 chị em ruột, bố mẹ đã ly dị từ lâu (5 năm). Tất cả 6 chị em ở với mẹ, cách đây gần 1 năm mẹ bệnh nặng qua đời mà không để lại di chúc. Tài sản của mẹ để lại 1 miếng đất trên miếng đất có 1 ngôi nhà nhỏ, Bây giờ 6 chị em ruột chúng tôi muốn làm thủ tục phân chia tài sản đều cho 6 chị em, thì thủ tục như thế nào? Phía người thân của mẹ chúng tôi còn Ông bà ngoại của chúng tôi vẫn còn sống cũng đã lớn tuổi rồi.

=> Bạn làm đơn gửi lên Tòa án yêu cầu phân chia tài sản là được.

Thưa luật sư, Gia đình em có 6 người (gồm 2 cô và 4 chú.vì ba em mất nên em được huởng phần thừa kế của ba em) và mọi người cùng ra tòa để chia phần thừa kế cho em, và cùng kí giấy là mỗi người đều thỏa thuận sẽ trả cho em 100.000.000 (một trăm triệu). giấy nợ có công chứng của tòa án.và bây giờ 5 người đều trả cho em. còn 1 người thì không có tiền trả.nhưng người đó vẫn còn 1 phần đất có thể bán ra để trả nợ cho em nhưng người đó nói là sẽ không trả tiền cho em. bây giờ em phải làm sao ạ?

=> Bạn khởi kiện lên Tòa án yêu cầu người kia trả tiền, nếu người đó không có đủ tiền Tòa án sẽ thực hiện kê biên tài sản là quyền sử dụng mảnh đất đó để trả tiền cho bạn.

Thưa luật sư, Cho em hỏi về vấn đề chia tài sản theo di chúc như sau Hai vợ chồng A và B có tài sản chung là 600 triệu. A chết và A để lại tài sản cho 2 con là F và H trong khi đó A vẫn còn một đứa con là E bị tàn tật nhưng A không để thừa kế. Vậy tài sản của A sẽ chia như thế nào cho B,E,F,H

=> A và B có tài sản chung là 600 triệu, A chết vạy tài sản của A là 300 triệu. A để lại cho F và Ha vậy theo di chúc F và H được 300: 2 = 150 triệu.

B là vợ và E bị tàn tật nên là người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Vậy B và E được 2/3 suất thừa kế:

2/3 x (300:4) = 50 triệu lấy từ F và H

=> Vậy B, E mỗi người được 50 triệu. F và H mỗi người được 100 triệu.

Xin chào Luật sư, em có một vấn đề chưa rõ xin được hỏi Luật sư như sau: Có được thực hiện đồng thời các thủ tục về Quyền sử dụng đất hay không? Ví dụ như làm thủ tục phân chia thừa kế QSD đất xong đã được công chứng mà chưa sang tên trên giấy CN QSD đất, thì đồng thời làm thủ tục tách thửa để chuyển nhượng 1 phần thửa đất được không. Hay phải có giấy CN QSD đất đã mới được chuyển nhượng. Điều, Luật nào cho phép thực hiện như vậy. Em xin chân thành cảm ơn.

Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất."

Thì bạn phải có GCNQSD đất đã mới được chuyển nhượng.

Thưa luật sư, Vợ chồng tôi đang là chủ sở hữu căn nhà ở quận GV T/p HCM.(tạm gọi là nhà số 1) Tôi còn đứng tên *đồng sở hữu thừa kế* (gồm 6 anh em ruột) ở quận BT, nhà này của Cha Mẹ qua đời để lại (tạm gọi là căn nhà số 2) Xin hỏi : Khi bán căn nhà số 1 ( thí dụ bán 1 tỷ ) tôi phải đóng thuế thu nhập cá nhân bao nhiêu, Vợ tôi có phải đóng không, vì vợ tôi chỉ có duy nhất căn nhà số 1

Thuế TNCN khi chuyển quyền sử dụng đất:

Thuế suất đối với chuyển nhượng bất động sản là 2% trên giá chuyển nhượng từng lần đối với chuyển nhượng bất động sản. (Theo điểm c tiểu mục 1.2 mục 1 Công văn 17526/BTC-TCT)

Trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế TNCN theo Khoản 2 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007. Vậy vợ bạn không phải đóng thuế.

Thưa luật sư, ông em nay đã già nhưng tinh thần vẫn còn minh mẫn và có ý định để thừa kế tài sản là đất đang sử dụng cho em (là cháu nội của ông). ông bà nội em có 2 người con là cô em và ba em (chị em cùng cha khác mẹ, cô em là con của ông bà nội cha em là con của ông nội nhưng về sống với bà nội từ bé tới bây giờ) nhưng khi tiến hành thừa kế tài sản cho em thì gặp sự phản đối của cô em (cô em không đồng ý và nhất quyết muốn chia cho cô em nữa) phần đất đó là do bà nội em đứng tên nay bà nội em đã mất (cách đây 18 năm, nhưng trước khi chết bà em không kịp để lại di chúc), theo luật sư phần đất đó em có được nhận thừa kế không?

Vì phần đất đó do bà nội bạn đứng tên mà bà không để lại di chúc nên phần đất sẽ được chia đều cho những người thuộc Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?