Ngõ chung(thuộc đất công) có chiều rộng khoảng 4 m chạy từ mặt đường công cộng vào thửa đất của gia đình nhà tôi. Mảnh đât đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi tên tôi tại thửa 396 tờ bản đồ số 2a Bản đồ địa chính thị trấn Liễu Đề năm 1986 và sổ mục kê năm 1986 với diện tích 600 m2, trong đó 280 m2 đất thổ cư và 320 m2 đất ao. Gia đình tôi sử dụng ổn định diện tích đất và sử dụng ngõ đi từ khi nhận chuyển nhượng. Gần đây, ngõ đi chung này đã bị gia đình bà Hiên (tức Nhi), ông Hồng lấn chiếm toàn bộ và đã xây dựng nhà trên đất ngõ đi chung làm cho gia đình tôi không có lối đi, làm ảnh hưởng đến việc sử dụng mảnh đất của gia đình tôi. Việc lấn, chiếm ngõ đi chung của gía đình bà Hiên (tức Nhi), ông Hồng đã xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi trên lối đi chung đó và gây ra tình trạng tranh chấp đất đai kéo dài giữa các gia đình trong xóm ngõ, làm ảnh hưởng tới an ninh, trật tự khu vực. Thời gian qua tôi đã làm đơn đề nghị khu phố và UBND thị trấn Liễu Đề hòa giải để yêu cầu gia đình bà Đinh Thị Hiên và ông Nguyễn Văn Hồng trả lại ngõ đi chung. Mặc dù UBND thị trấn Liễu Đề đã hoà giải nhiều lần nhưng gia đình bà Hiên, ông Hồng không trả lại đất ngõ dẫn đến các cuộc hòa giải đều không thành và UBND thị trấn đã hướng dẫn tôi làm đơn khởi kiên ra tòa án nhân dân huyện Nghĩa hưng Vì vậy tôi đã làn đơn khỉ kiện ra tòa án nhân dân huyện Nghĩa hưng với đầy đủ thủ tục và chứng cứ theo quy định của pháp luật, nhưng tòa án ND huyện Nghĩa hưng không nhận đơn với lý do là ngõ đi chung là đất công do chính quyền quản lý và hướng dẫn tôi làm đơn đề nghị gửi UBND huyện Nghĩa hưng để giải quyết

Vậy tôi xin Luật sư tư vấn gúp: 1 Ngõ đi chung thuộc đất công đó do cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết? 2 Nếu tôi gửi đơn ra UBND huyện mà không giải quyết thỏa đáng thì tôi có được khởi kiện ra tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính không? hay phải gửi đơn lên UBND tỉnh? Rất mong Luật sư tư vấn giúp. Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự năm 2005

Luật Đất Đai năm 2013

>> Xem thêm:  Đền bù đất vườn trồng cây lâu năm liền kề đất nhà ở như thế nào ? Có nên mua đất đền bù không ?

Nội dung tư vấn:

1. Lối đi qua bất động sản liền kề?

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: 

Điều 273. Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề

"Chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất có quyền sử dụng bất động sản liền kề thuộc sở hữu của người khác để bảo đảm các nhu cầu của mình về lối đi, cấp, thoát nước, cấp khí ga, đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý, nhưng phải đền bù, nếu không có thoả thuận khác."

Điều 275. Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

"1. Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó. Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thoả thuận khác.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thoả thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.

3. Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù"

>> Xem thêm:  Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ? Thủ tục mua bán, tách sổ của lô đất ?

Như vậy, hai bất động sản liền kề bạn có quyền có lối đi.

2. Thẩm quyền giải quyết?

Điều 203 Luật Đất Đai năm 2013 quy định Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
"Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành"

Điểm c Khoản 1 Điều 88 Nghị định 43/2014 quy định:

"...Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành".

Như vậy, theo quy định trên, Bạn phải gửi đơn yêu cầu Hòa giải đến Ủy ban nhân dân cấp xã. Trong trường hợp bên kia vắng mặt đến lần thứ hai, thì coi như việc hòa giải không thành. Ủy ban nhân dân phải lập biên bản hòa giải không thành, sau đó bạn làm đơn khởi kiện lên Tòa án. Theo thông tin bạn cung cấp, Tòa án trả lại đơn có thể do Ủy ban nhân dân không làm biên bản xác nhận hòa giải không thành.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư đất đai.

>> Xem thêm:  Khởi kiện tranh chấp hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất ? Tranh chấp đất khi xây nhà mới ?