- 1. Thẩm quyền thu hồi đất theo Luật đất đai 2024
- 1.1. Thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phân cấp thẩm quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
- 1.2. Thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân xã, phân cấp thẩm quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã
- 2. Quy trình thu hồi đất phục vụ quốc phòng, an ninh
- 3. Quy trình thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai
- Kết luận
Trong hệ thống pháp luật đất đai, thu hồi đất là một trong những quyền năng quan trọng của Nhà nước nhằm bảo đảm việc sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh cũng như lợi ích quốc gia, công cộng. Tuy nhiên, để tránh tình trạng tùy tiện, lạm quyền và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, pháp luật quy định rất chặt chẽ về thẩm quyền thu hồi đất. Luật Đất đai 2024 đã kế thừa và hoàn thiện các quy định trước đây, xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất trong từng trường hợp cụ thể, qua đó nâng cao tính minh bạch, thống nhất và hiệu lực trong quản lý nhà nước về đất đai.
1. Thẩm quyền thu hồi đất theo Luật đất đai 2024
Việc thu hồi đất thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật Đất đai, bảo đảm đúng căn cứ, trình tự và thủ tục pháp luật. Trường hợp thu hồi đất mà tài sản gắn liền với đất là tài sản công, việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, bảo đảm quản lý chặt chẽ, tránh thất thoát và sử dụng hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
1.1. Thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phân cấp thẩm quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Căn cứ khoản 1 Điều 83 Luật Đất đai 2024, pháp luật đã quy định rõ thẩm quyền thu hồi đất trong trường hợp thu hồi do vi phạm pháp luật về đất đai. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi đất đối với các chủ thể như: tổ chức trong nước, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc các trường hợp quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Luật Đất đai.
Tuy nhiên, để bảo đảm tính linh hoạt, kịp thời và nâng cao trách nhiệm cá nhân trong quản lý đất đai, pháp luật cho phép thực hiện cơ chế phân quyền, phân cấp. Cụ thể, tại điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP, Chính phủ quy định: các thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo Luật Đất đai, trong đó có quyết định thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai theo khoản 1 Điều 83 Luật Đất đai 2024, được phân quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp thực hiện.
Như vậy, về nguyên tắc, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vẫn là chủ thể có thẩm quyền thu hồi đất trong trường hợp vi phạm pháp luật đất đai; đồng thời, trên cơ sở quy định phân quyền của Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao trực tiếp ban hành quyết định thu hồi đất. Cách thức tổ chức thẩm quyền này vừa bảo đảm đúng khuôn khổ pháp lý của Luật Đất đai 2024, vừa góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế chồng chéo và rút ngắn thời gian xử lý trong thực tiễn.
1.2. Thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân xã, phân cấp thẩm quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP, Chính phủ đã thiết lập cơ chế chuyển giao thẩm quyền từ Ủy ban nhân dân cấp huyện cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong một số nội dung quản lý đất đai quan trọng. Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được giao thực hiện nhiều thẩm quyền vốn thuộc cấp huyện, trong đó đáng chú ý là quyết định thu hồi đất thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai 2024, cũng như các trường hợp thu hồi đất liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo các điều khoản tương ứng của Luật Đất đai.
Trong khi đó, khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai 2024 xác định nguyên tắc chung về thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện, bao gồm: thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo Điều 78 và Điều 79; và thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trong các trường hợp vi phạm pháp luật đất đai theo Điều 81 và Điều 82 của Luật này. Đây là những trường hợp thường gắn với đất và tài sản do Nhà nước quản lý hoặc liên quan trực tiếp đến lợi ích công cộng.
Tuy nhiên, kể từ thời điểm ngày 01/7/2025, trên cơ sở quy định chuyển giao thẩm quyền tại Nghị định 151/2025/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trở thành chủ thể trực tiếp thực hiện việc thu hồi đất, bao gồm cả trường hợp thu hồi đất, tài sản gắn liền với đất là tài sản công, đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền trước đây của cấp huyện. Sự thay đổi này thể hiện rõ định hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng tính chủ động cho chính quyền cơ sở, đồng thời rút ngắn quy trình hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai trong thực tiễn.
Lưu ý: Trường hợp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là tài sản công thuộc các trường hợp thu hồi đất theo quy định của Luật này thì không phải thực hiện việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. (Khoản 3 điều 83 Luật đất đai 2024)
2. Quy trình thu hồi đất phục vụ quốc phòng, an ninh
Thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh được quy định cụ thể tại Điều 28 Nghị định 102/2024/NĐ-CP, nhằm thiết lập một quy trình chặt chẽ, công khai và đúng pháp luật, qua đó bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Theo quy định, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản kèm hồ sơ dự án của chủ đầu tư, tổ chức hoặc đơn vị được giao thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để xem xét đầy đủ căn cứ và điều kiện thu hồi đất theo Điều 80 Luật Đất đai. Đây là bước khởi đầu nhằm bảo đảm việc thu hồi đất chỉ được thực hiện khi đáp ứng đúng các điều kiện pháp lý.
Quy trình thu hồi đất được triển khai theo một trình tự rõ ràng. Trước hết, cơ quan có trách nhiệm phải cung cấp thông tin tổng quát về dự án, bao gồm tên dự án, chủ đầu tư, địa điểm, diện tích đất thu hồi, mục tiêu, tiến độ thực hiện và căn cứ pháp lý. Việc công khai thông tin này giúp người dân và các tổ chức liên quan hiểu rõ mục đích, tính cần thiết cũng như phạm vi của việc thu hồi đất.
Tiếp đó, cuộc họp với người có đất thu hồi được tổ chức để phổ biến nội dung dự án, đồng thời tiếp nhận ý kiến, kiến nghị của người sử dụng đất. Đây là bước quan trọng nhằm tăng cường đối thoại, tạo sự đồng thuận xã hội và hạn chế tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện.
Sau khi hoàn tất việc lấy ý kiến, thông báo thu hồi đất được ban hành và gửi đến các đối tượng liên quan, bảo đảm mọi người đều được tiếp cận thông tin một cách đầy đủ và kịp thời. Cơ quan chức năng tiếp tục tiến hành điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm để xác định chính xác diện tích, loại đất, tài sản gắn liền với đất, làm cơ sở cho việc bồi thường.
Trên cơ sở kết quả kiểm đếm, phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được lập, thẩm định, phê duyệt và công khai theo quy định. Việc công khai phương án giúp người dân nắm rõ quyền lợi, nghĩa vụ của mình và bảo đảm tính minh bạch trong quá trình thu hồi đất. Sau khi phương án được phê duyệt, các nội dung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sẽ được tổ chức thực hiện đúng trình tự pháp luật.
Cuối cùng, quyết định thu hồi đất được ban hành và tổ chức thực hiện; trong trường hợp cần thiết, các biện pháp cưỡng chế sẽ được áp dụng theo đúng quy định. Sau khi hoàn tất, quỹ đất đã thu hồi được bàn giao cho chủ đầu tư hoặc đơn vị được giao quản lý, chính thức khép lại quy trình thu hồi đất.
Bên cạnh đó, toàn bộ thủ tục này còn phải tuân thủ các quy định liên quan tại Điều 87 Luật Đất đai, bao gồm việc sử dụng đúng các mẫu quyết định về kiểm đếm, cưỡng chế. Quy trình chặt chẽ này không chỉ bảo đảm tính hợp pháp, minh bạch mà còn thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội gắn với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
3. Quy trình thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai
Căn cứ Mục I Phần II Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP, trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai theo Điều 81 Luật Đất đai 2024 được thiết kế theo một quy trình chặt chẽ, có mốc thời gian rõ ràng, nhằm bảo đảm tính kịp thời, minh bạch và đúng thẩm quyền trong xử lý vi phạm. Cụ thể, quy trình được thực hiện theo các bước sau:
Trước hết, việc thu hồi đất được khởi xướng trên cơ sở kết quả xử lý vi phạm hoặc kết luận thanh tra, kiểm tra. Theo đó, cơ quan hoặc người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về đất đai, hoặc cơ quan thanh tra, kiểm tra có thẩm quyền, có trách nhiệm kiến nghị hoặc gửi kết luận thanh tra, kiểm tra đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp xã nơi có thửa đất vi phạm để xem xét thu hồi đất.
Tiếp theo, trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận kiến nghị hoặc kết luận nói trên, cơ quan quản lý đất đai cùng cấp có trách nhiệm lập đầy đủ hồ sơ thu hồi đất và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định. Đây là bước trung gian quan trọng nhằm rà soát căn cứ pháp lý, bảo đảm việc thu hồi đất được thực hiện đúng đối tượng, đúng trường hợp theo quy định của Luật Đất đai.
Sau khi hồ sơ thu hồi đất được hoàn thiện và tiếp nhận, trong thời hạn 05 ngày làm việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp xã phải ban hành thông báo thu hồi đất gửi đến người sử dụng đất bị thu hồi, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất và các chủ thể có quyền, nghĩa vụ liên quan (nếu có). Việc thông báo này nhằm bảo đảm quyền được biết, quyền giải trình và nghĩa vụ chấp hành của người có đất bị thu hồi.
Tiếp đó, trong thời hạn 10 ngày kể từ khi kết thúc thời hạn thông báo thu hồi đất, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có thẩm quyền phải ban hành quyết định thu hồi đất, đồng thời chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết định theo đúng trình tự pháp luật, bảo đảm việc thu hồi đất được triển khai thống nhất, đúng quy định.
Trong trường hợp người sử dụng đất không tự nguyện chấp hành quyết định thu hồi đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất theo quy định của pháp luật, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật đất đai và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Kết luận
Quy định về thẩm quyền thu hồi đất theo Luật Đất đai 2024 giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm trật tự, kỷ cương pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Việc phân định rõ thẩm quyền giữa các cấp, các cơ quan nhà nước không chỉ giúp quá trình thu hồi đất được thực hiện đúng pháp luật, đúng mục đích mà còn hạn chế phát sinh tranh chấp, khiếu nại, tố cáo. Đồng thời, các quy định này góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan có thẩm quyền, tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai. Đây chính là nền tảng quan trọng để việc thu hồi đất diễn ra công khai, minh bạch, hiệu quả và phục vụ tốt cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.