1. Thay đổi người giám hộ là gì?

Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật dân sự để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Cá nhân, pháp nhân để được làm người giám hộ thì phải đáp ứng các điều kiện nhất định:

Điều 49. Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ (Bộ luật dân sự 2015)

Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:

1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

2. Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

3. Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.

4. Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.

Điều 50. Điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ (Bộ luật dân sự 2015)

Pháp nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:

1. Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ.

2. Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

Khi không đáp ứng các điều kiện trên hoặc người giám hộ chết, người giám hộ vi phạm nghiêm trong nghĩa vụ giám hộ thì đặt ra vấn đề cần thay đổi người giám hộ để người được giám hộ có thể đảm bảo được quyền, lợi ích của mình.

2. Các trường hợp phải thay đổi người giám hộ.

Các trường hợp thay đổi người giám hộ đã được liệt kê cụ thể tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật dân sự 2015:

Người giám hộ được thay đổi trong trường hợp sau đây:

a) Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định tại Điều 49, Điều 50 của Bộ luật này;

b) Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự, mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại;

c) Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;

d) Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.

Việc pháp luật quy định về thay đổi người giám hộ là cần thiết vì mục đích của giám hộ là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ, do đó, nếu việc giám hộ không đáp ứng được các mục đích này có nguyên nhân từ người giám hộ thì cần phải thay đổi người giám hộ.

Trường hợp 1: Người giám hộ không còn đủ điều kiện để làm người giám hộ theo quy định của luật. Điều kiện để làm người giám hộ là căn cứ xác định cá nhân, pháp nhân có đủ tư cách trở thành người giám hộ hay không. Do đó, nếu người giám hộ không còn đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 49, Điều 50 Bộ luật dân sự 2015 thì cần phải thay đổi.

Ví dụ như trường hợp cá nhân làm người giám hộ sau đó thì người này mất năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, do đó không thể thực hiện nghĩa vụ của một người giám hộ được. Thậm trí trong trường hợp này, người giám hộ lại trở thành người được giám hộ vì theo quy định của pháp luật người mất năng lực hành vi dân sự là người được giám hộ, cần xác định người giám hộ.

Trường hợp 2: người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; mất năng lực hành vi dân sự; mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại. Khi người giám hộ chết thì đương nhiên quan hệ giám hộ chấm dứt, do đó, người được giám hộ không còn người giám hộ. Vì vậy, cần xác định người giám hộ mới cho người được giám hộ. Trường họp cá nhân mất tích, tuy quan hệ giám hộ về mặt pháp lý không đương nhiên chấm dứt nhưng trên thực tế, người được giám hộ cũng không có sự chăm sóc, bảo vệ của người giám hộ do đó, cũng cần có người giám hộ khác cho họ. Trường hợp pháp nhân làm giám hộ chấm dứt sự tồn tại cũng tương tự như trường hợp cá nhân là người giám hộ chết. Do đó, người được giám hộ cũng cần có người giám hộ khác. Bên cạnh đó, năng lực hành vi dân sự đầy đủ cũng là một trong những điều kiện cần thiết để cá nhân có thể trở thành người giám hộ. Vì vậy, khi người giám hộ đang có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, theo quyết định của Tòa án trở thành tình trạng không đầy đủ về năng lực hành vi dân sự thì cần thay đổi người giám hộ vì bản thân họ trong những trường hợp này cũng cần được người khác giám hộ cho mình.

Trường hợp 3: Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ. Các quy định về nghĩa vụ giám hộ hướng tới mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người giám hộ. Do đó, khi người giám hộ vi phạm nghĩa vụ, đặc biệt là mức độ vi phạm là nghiêm trọng thì không thể đáp ứng được mục đích của việc giám hộ. Vì vậy, cần có sự thay đổi người giám hộ.

Trường hợp 4: người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ. Việc thay đổi người giám hộ cũng có thể xuất phát từ nguyên nhân không liên quan đến các điều kiện giám hộ, tư cách đạo đức, năng lực hành vi dân sự của người giám hộ mà có thể xuất phát từ mong muốn của người giám hộ khi họ đề nghị được thay đổi và có người khác đồng ý thay họ làm người giám hộ. Điều này là hợp lý và tương đồng với yêu cầu khi xác lập quan hệ giám hộ cần có sự đồng ý của người giám hộ. Có nghĩa là trong quan hệ giám hộ, bản thân người giám hộ phải hoàn toàn tự nguyện thì mới có thể thực hiện được tốt việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

3. Giám hộ đương nhiên có được thay đổi không?

Người giám hộ đương nhiên có thể thay đổi vì theo quy định tại Khoản 2 Điều 60 Bộ luật dân sự 2015:

Trường hợp thay đổi người giám hộ đương nhiên thì những người được quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này là người giám hộ đương nhiên; nếu không có người giám hộ đương nhiên thì việc cử, chỉ định người giám hộ được thực hiện theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật này.

Người giám hộ đương nhiêm của người chưa thành niên được quy định như sau:

Điều 52. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên

Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật này được xác định theo thứ tự sau đây:

1. Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.

2. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.

3. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự:

Điều 53. Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự

Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:

1. Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

2. Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.

3. Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Như vậy, nếu thay đổi người giám hộ đương nhiên thì những người thuộc đối tượng giám hộ đương nhiêm còn lại sẽ làm người giám hộ. Nếu không còn ai thuộc đối tượng giám hộ đương nhiêm thì Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ cử người giám hộ, nếu có tranh chấp thì Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ.

4. Thủ tục thay đổi người giám hộ.

- Thủ tục đăng ký thay đổi người giám hộ:

Điều 23 Luật hộ tịch 2014 quy định:

Điều 23. Đăng ký thay đổi giám hộ

Trường hợp yêu cầu thay đổi người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và có người khác đủ điều kiện nhận làm giám hộ, thì các bên làm thủ tục đăng ký chấm dứt giám hộ trước đó và đăng ký giám hộ mới theo quy định tại Mục này.

- Thủ tục đăng ký chấm dứt người giám hộ:

+ Người yêu cầu đăng ký chấm dứt giám hộ nộp tờ khai đăng ký chấm dứt giám hộ theo mẫu quy định và giấy tờ làm căn cứ chấm dứt giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

+ Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc chấm dứt giám hộ đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật dân sự, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc chấm dứt giám hộ vào Sổ hộ tịch, cùng người đi đăng ký chấm dứt giám hộ ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

- Thủ tục đăng ký giám hộ cử và đăng ký giám hộ đương nhiên được thực hiện theo quy định tại Điều 20, 21 Luật hộ tịch 2014.

5. Chuyển giao giám hộ khi thay đổi người giám hộ.

Chuyển giao giám hộ có thể xem là hậu quả pháp lý kèm theo của việc thay đổi người giám hộ. Việc chuyển giao giám hộ được quy định như sau:

Điều 61. Chuyển giao giám hộ (Bộ luật dân sự 2015)

1. Khi thay đổi người giám hộ thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có người giám hộ mới, người đã thực hiện việc giám hộ phải chuyển giao giám hộ cho người thay thế mình.

2. Việc chuyển giao giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do chuyển giao và tình trạng tài sản, vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ tại thời điểm chuyển giao. Cơ quan cử, chỉ định người giám hộ, người giám sát việc giám hộ chứng kiến việc chuyển giao giám hộ.

3. Trường hợp thay đổi người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều 60 của Bộ luật này thì cơ quan cử, chỉ định người giám hộ lập biên bản, ghi rõ tình trạng tài sản, vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ, quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình thực hiện việc giám hộ để chuyển giao cho người giám hộ mới với sự chứng kiến của người giám sát việc giám hộ.

Thời hạn người giám hộ cũ phải chuyển giao việc giám hộ cho người giám hộ mới là trong vòng 15 ngày kể từ ngày xác định được người giám hộ mới. Quy định này nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của người được giám hộ bởi các cá nhân này cần nhanh chóng được chăm sóc, bảo đảm thông qua hành vi của người giám hộ. Nếu thời hạn chuyển giao càng dài thì càng ảnh hưởng đến người được giám hộ.

Việc giám hộ phải được lập thành văn bản, có ghi rõ nội dung:

- Lý do chuyển giao;

- Tình trạng tài sản;

- Vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ tại thời điểm chuyển giao.

Việc chuyển giao giám hộ phải được thực hiện dưới sự chứng kiến của cơ quan cử, chỉ định người giám hộ và người giám sát việc giám hộ. Văn bản chuyển giao là cơ sở để xác định trách nhiệm của người giám hộ cũ cũng như người giám hộ mới khi xác định tình trạng của các vấn đề liên quan đến người được giám hộ. Sự chứng kiến của các chủ thể được yêu cầu đảm bảo tính khách quan, chân thực của các nội dung được chuyển giao.

Văn bản chuyển giao giám hộ nếu thuộc trường hợp phải thay đổi người giám hộ do không còn đáp ứng đủ điều kiện giám hộ thì được lập bởi cơ quan cử, chỉ định người giám hộ và ghi rõ các nội dung:

- Tình trạng tài sản.

- Vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ;

- Quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình thực hiện việc giám hộ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.