1.Thị trường nội khối 

- Khung pháp lí chung Pháp luật về thị trường nội khối là một trong các trụ cột của luật EU. Thị trường chung hay thị trường nội khối, khái niệm được định nghĩa bởi ‘bốn tự do’ là cốt lõi của Cộng đồng châu Âu với các chính sách về tự do dịch chuyển hàng hoá, người, dịch vụ, và tư bản, nhằm đảm bảo xây dựng một liên minh gắn bó chặt chẽ về kinh tế, tiền tệ và chính trị. Kể từ khi được thành lập năm 1993, thị trường chung đã tạo điều kiện tốt hơn cho cạnh tranh, tạo ra nhiều việc làm mới, định hình giá cả hợp lí hơn cho người tiêu dùng, và giúp cho các doanh nghiệp và người dân hưởng lợi nhờ có sự lựa chọn phong phú hơn về hàng hoá và dịch vụ. Để đảm bảo rằng một thị trường chung có thể đem lại lợi ích nhiều nhất cho tất cả mọi người, bao gồm cả người dân và doanh nghiệp, EU tập trung vào việc loại bỏ các rào cản cản trở hoạt động của thị trường. EU cố gắng hài hoà về lập pháp để đối phó tốt hơn với những thách thức của toàn cầu hoá và sự thay đổi của công nghệ. Theo Điều 2 TEC, mục tiêu ban đầu của TEC là: ‘Cộng đồng sẽ có nhiệm vụ xây dựng thị trường chung và từng bước hài hoà chính sách kinh tế của các nước thành viên’. Theo Điều 3 của TEC, nhằm đạt được mục tiêu nêu trên, các nước thành viên sẽ phải loại bỏ việc áp dụng thuế quan và các biện pháp hạn chế số lượng trong quan hệ thương mại hàng hoá giữa các nước thành viên; thiết lập biểu thuế quan chung của các nước thành viên trong quan hệ thương mại với các nước ngoài cộng đồng; loại bỏ các rào cản để tạo thuận lợi cho sự tự do dịch chuyển người, dịch vụ và tư bản (‘bốn tự do’) giữa các nước thành viên; chấp nhận chính sách nông nghiệp chung châu Âu, chính sách vận tải chung châu Âu; hình thành chính sách cạnh tranh của châu Âu; hài hoà hoá pháp luật giữa các nước thành viên nhằm đảm bảo sự vận hành phù hợp của thị trường chung; xây dựng Quỹ xã hội châu Âu nhằm tăng cường cơ hội việc làm cho người lao động và góp phần nâng cao mức sống của họ; thành lập Ngân hàng đầu tư châu Âu… Sau này, Điều 26 TFEU quy định: 1. Liên minh sẽ áp dụng các biện pháp nhằm thiết lập hoặc đảm bảo sự vận hành của thị trường nội khối, phù hợp với các quy định liên quan của các hiệp ước. 2. Thị trường nội khối được cấu thành bởi một khu vực không có các rào cản bên trong, trong đó sự tự do dịch chuyển hàng hoá, người, dịch vụ và tư bản được bảo đảm, phù hợp với các quy định của các hiệp ước. Mục đích thiết lập thị trường chung được đề cập trong TEC và các hiệp định khác, như: Đạo luật châu Âu thống nhất 1986, và TFEU. Những hiệp định này cũng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của Liên minh kinh tế và tiền tệ châu Âu. Gần đây, Đạo luật thị trường chung được ban hành vào tháng 4/2011 nhằm cải thiện vấn đề việc làm, kinh doanh và trao đổi của người dân EU. B. Các quy định về ‘bốn tự do cơ bản’ Cốt lõi của chính sách kinh tế và xã hội của EU được đúc kết trong ý tưởng về ‘bốn tự do cơ bản’ - tự do dịch chuyển hàng hoá, người lao động, vốn và tự do cung cấp dịch vụ.

2. Thị trường chung cho hàng hoá

- Tự do dịch chuyển hàng hoá (a) Tổng quan Sự tự do dịch chuyển hàng hoá, nhằm mục đích bảo đảm thương mại trong nội khối EU, là yếu tố quan trọng nhất của thị trường chung. Việc cấm sử dụng các biện pháp hạn chế xuất nhập khẩu giữa các thành viên và nguyên tắc công nhận lẫn nhau đảm bảo sự tuân thủ của các thành viên dưới sự giám sát của Ủy ban châu Âu. Kể từ tháng 1/1993, việc kiểm soát dịch chuyển hàng hoá trong thị trường nội khối đã được loại bỏ, biến EU trở thành lãnh thổ thống nhất, không có các biên giới nội bộ. Việc loại bỏ thuế quan thúc đẩy thương mại nội khối, đóng góp phần lớn vào tổng giá trị xuất nhập khẩu của các nước thành viên. Tự do dịch chuyển hàng hoá bao gồm ba khía cạnh: (i) Thành lập liên minh hải quan (Điều 23 TEC - Điều 28 TFEU) - Cấm áp thuế quan và phí có tác động tương đương thuế quan đối với hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu; - Thiết lập biểu thuế quan thống nhất áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu vào EU. (ii) Cấm áp dụng các khoản thuế nội địa có tính phân biệt đối xử (Điều 90 TEC - Điều 110 TFEU). (iii) Cấm áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng và các biện pháp có tác động tương đương biện pháp hạn chế số lượng đối với hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu. Điều 28 TEC - Điều 34 TFEU quy định: ‘Các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu và tất cả các biện pháp có tác động tương đương biện pháp hạn chế số lượng bị cấm áp dụng giữa các nước thành viên.’ Điều 29 TEC - Điều 35 TFEU quy định tương tự liên quan đến hàng hoá xuất khẩu. Cần lưu ý rằng các biện pháp hạn chế số lượng chỉ bị cấm áp dụng giữa các nước thành viên EU. Điều 30 TEC - Điều 36 TFEU quy định những ngoại lệ như sau: Các quy định của Điều 28 và Điều 29 không loại trừ việc cấm hoặc hạn chế xuất nhập khẩu hàng hoá xuất phát từ nhu cầu bảo vệ đạo đức xã hội, chính sách công hoặc an ninh công cộng; để bảo vệ sức khoẻ và đời sống con người, động vật hay thực vật; để bảo vệ các tài sản quốc gia có giá trị về nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ; hoặc để bảo vệ tài sản công nghiệp và thương mại. Tuy nhiên, việc cấm hoặc hạn chế đó không được tạo thành một công cụ phân biệt đối xử tuỳ tiện hoặc hạn chế thương mại trá hình giữa các nước thành viên. Căn cứ vào Điều 30 TEC - Điều 36 TFEU, các nước thành viên EU vẫn có thể áp dụng những rào cản thương mại nhất định, trong các trường hợp đạo đức xã hội, chính sách và an ninh công cộng, sức khoẻ, văn hoá hoặc các tài sản thương mại bị đe dọa do sự loại bỏ hoàn toàn các rào cản này. Trong cuộc khủng hoảng ‘dịch bò điên’ ở nước Anh, nước Pháp đã áp đặt rào cản đối với thịt bò nhập khẩu từ quốc gia này. (b) Tự do dịch chuyển hàng hoá và chính sách nông nghiệp chung Chính sách nông nghiệp chung (‘Common Agricultural Policy’ - CAP) được quy định tại Tít II TEC. Khoản 1 Điều 34 quy định ‘sự phối hợp bắt buộc giữa các tổ chức thị trường của các nước’ với tổ chức thị trường chung của châu Âu. CAP ra đời từ những ngày đầu của quá trình hội nhập châu Âu, khi các nước thành viên cam kết tái cơ cấu và tăng cường sản xuất lương thực, vốn đã bị tàn phá bởi Chiến tranh thế giới lần thứ II. Ngày nay, CAP vẫn có một vai trò then chốt trong EU, không chỉ vì đất nông nghiệp và rừng chiếm hơn 90% diện tích đất đai của EU, mà còn bởi nó đã trở thành cơ chế rất quan trọng để EU đối mặt với những thách thức mới về chất lượng thực phẩm, bảo vệ môi trường và thương mại. CAP có hai mục tiêu chính: Thứ nhất, giúp xây dựng khả năng cạnh tranh cho người nông dân châu Âu; thứ hai, thúc đẩy phát triển nông thôn, đặc biệt là những vùng ít thuận lợi nhất. Như đã đề cập ở trên, luật án lệ cũng rất có ý nghĩa trong việc củng cố pháp luật về thị trường nội khối EU. Án lệ Cassis de Dijon 1979 là một trong những án lệ quan trọng của luật EU khẳng định nguyên tắc tự do dịch chuyển hàng hoá.

3.Tự do dịch chuyển người lao động 

Nhờ có sự loại bỏ các rào cản giữa các nước EU, người dân EU giờ đây có thể tự do dịch chuyển trong phần lớn lãnh thổ EU. Việc một người sống và làm việc tại nước EU khác cũng dễ dàng hơn. Trong ‘Vùng Schengen’, mọi người được tự do dịch chuyển mà không phải kiểm tra an ninh hay hải quan ở biên giới của phần lớn các nước EU. Tuy nhiên, các hoạt động kiểm soát được tăng cường ở các biên giới bên ngoài của EU và có sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa cảnh sát các nước EU.

4.Tự do dịch chuyển vốn (tư bản)

 Đạo luật châu Âu thống nhất 1986 là một bước đi quyết định đối với sự tự do dịch chuyển vốn. Nó dẫn tới việc thông qua Chỉ thị 88/361/EEC vào ngày 24/6/1988, nhằm thiết lập một khuôn khổ tài chính đầy đủ cho thị trường chung. Chỉ thị này thực thi Điều 67 TEC. Chỉ thị 88/361/EEC đảm bảo nguyên tắc tự do hoá hoàn toàn hoạt động dịch chuyển vốn giữa các nước thành viên, có hiệu lực từ ngày 1/7/1990. Ủy ban châu Âu nỗ lực loại bỏ những thoả thuận chung có mục đích hạn chế sự dịch chuyển vốn giữa những người cư trú ở các nước thành viên. ‘Dịch chuyển vốn’ được hiểu là tất cả những hoạt động cần thiết để cá nhân hoặc pháp nhân có thể thực hiện việc dịch chuyển vốn, bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp, đầu tư bất động sản, các hoạt động liên quan đến chứng khoán và các tài khoản vãng lai và tài khoản tiền gửi, các khoản vay và tín dụng.

5. Thị trường chung cho dịch vụ

- Tự do cung ứng dịch vụ và tự do thành lập doanh nghiệp Quyền tự do cung ứng dịch vụ và quyền tự do thành lập doanh nghiệp, quy định tại Điều 49 và Điều 56 TFEU là rất cần thiết cho sự vận hành của thị trường nội khối. Với các quyền này, các nhà kinh doanh có thể tiến hành hoạt động kinh doanh liên tục và ổn định ở một hay nhiều nước EU và/hoặc tạm thời cung ứng dịch vụ ở nước EU khác mà không cần phải thành lập cơ sở kinh doanh ở đó. Năm 2006, EU thông qua Chỉ thị về dịch vụ nhằm loại bỏ các rào cản đối với thương mại và dịch vụ, tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại xuyên biên giới. Điều 49 TFEU (Điều 43 TEC) quy định về quyền tự do thành lập doanh nghiệp. Những hạn chế đối với quyền tự do thành lập doanh nghiệp đều bị cấm. Quy định cấm này áp dụng đối với những hạn chế về việc thành lập chi nhánh, đại lí, công ty con của công dân của một nước thành viên tại một nước thành viên khác.

Những vấn đề chung về trợ cấp và biện pháp chống trợ cấp

Trong WTO, trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức công (trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các hình thức sau mang lại lợi ích cho doanh nghiệp/ngành sản xuất: (i) Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ bảo lãnh cho các khoản vay); (ii) Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng); (iii) Mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hoá (trừ cơ sở hạ tầng chung); (iv) Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động (i), (ii), (iii) nêu trên theo cách thức mà Chính phủ vẫn làm.

Các khoản hỗ trợ này được hiểu là mang lại lợi ích cho đối tượng được hưởng hỗ trợ nếu nó được thực hiện theo cách mà một nhà đầu tư tư nhân, một ngân hàng thương mại…bình thường sẽ không khi nào làm như vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương mại thông thường).

Để xác định hàng hóa nhập khẩu có được trợ cấp hay không, cơ quan điều tra nước nhập khẩu sẽ tiến hành tính toán mức trợ cấp của hàng hoá đó.

Có 4 điều kiện cần có để áp dụng biện pháp chống trợ cấp ở EU: (i) Hàng hóa nhập khẩu liên quan vào EU được trợ cấp; (ii) Ngành sản xuất sản phẩm liên quan nội địa chịu thiệt hại  đáng kể (hoặc bị đe dọa thiệt hại đáng kể); (iii) Tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu hàng được trợ cấp và thiệt hại của ngành sản xuất nội địa; (iv) Việc áp dụng biện pháp chống trợ cấp là phù hợp với lợi ích của Cộng đồng

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )