1. Khái niệm
Theo khoản 16 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019: "nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán". Nhà đầu tư chứng khoán thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích thu về lợi nhuận, những loại chứng khoán đó bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng khoán phái sinh,...
Nhà đầu tư cá nhân là cá thể tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích thu lợi nhuận. Họ có nguồn vốn nhàn rỗi và chọn tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán để kiếm lời từ số vốn họ đã đầu tư. Do hoạt động đầu tư vào chứng khoán có nhiều rủi ro nên có thể phân loại nhà đầu tư cá nhân thành:
- Nhà đầu tư chấp nhận rủi ro: họ luôn luôn có mục đích tối đa hóa lợi nhuận và tập trung vào các đợt phát hành nhất định. Vì vậy, họ thường đầu tư vào các chứng khoán có độ rủi ro cao nhưng lại có khả năng thu lời lớn. Đây là những nhà đầu tư cá nhân ngắn hạn, không đầu tư lâu dài vào bất cứ một loại chứng khoán nào.
- Nhà đầu tư không thích rủi ro: họ thường chọn phương thức đầu tư an toàn, tìm mọi cách để giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận từ những loại chứng khoán có rủi ro thấp. Họ là những nhà đầu tư chứng khoán dài hạn và cũng là nhà đầu tư nhỏ.
Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán là bảo vệ những quyền mà họ được hưởng trong quá trình thực hiện đầu tư chứng khoán như: quyền được tiếp cận thông tin, quyền tham gia thị trường chứng khoán, quyền sở hữu tài sản đầu tư,....
2. Quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã quy định điều khoản để bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư, có thể kể đến: Luật Chứng khoán năm 2019, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản dưới luật như các nghị định, thông tư,...
Điều 115, 116, 117, 118 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định quyền lợi của cổ đông phổ thông và cổ đông sở hữu các loại cổ phần ưu đãi như: "Nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông", "Ưu tiên mua cổ phần mới tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty",...Trong đó, quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán được thể hiện thông qua nghĩa vụ của công ty chứng khoán, như: công ty chứng khoán có trách nhiệm thông báo kịp thời, đầy đủ cho khách hàng về những quyền lợi phát sinh liên quan đến chứng khoán của khách hàng về những quyền lợi phát sinh liên quan đến chứng khoán của khách hàng.
Những vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán gây tác động xấu đến quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán sẽ bị xử phạt. Việc xử lý vi phạm được quy định tại Điều 132 Luật Chứng khoán năm 2019, những hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán thì tùy vào mức độ, tính chất của hành vi có thể bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây ra thiệt hại thì có thể phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 156/2020/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Quy định này gồm 04 chương và 54 điều khoản, quy định chi tiết các chế tài về vấn đề nêu trên, thông qua đó làm tăng tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, góp phần bảo vệ tốt hơn cho các nhà đầu tư khi tham gia vào lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Luật Chứng khoán năm 2019 có nhiều sự thay đổi so với luật cũ, những thay đổi này nhằm bảo vệ các nhà đầu tư thông qua sự bổ sung thêm nhiều hành vi bị nghiêm cấm như: sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung cầu giả tạo; sử dụng tài khoản, tài sản của khách hàng khi không được khách hàng ủy thác hoặc trái quy định của pháp luật hoặc lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của khách hàng; cho người khác mượn tài khoản để giao dịch chứng khoán, đứng tên sở hữu chứng khoán hộ người khác dẫn đến hành vi thao túng giá chứng khoán....
2.1. Vi phạm hành chính
Việc xử phạt vi phạm hành chính những hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán góp phần duy trì một thị trường chứng khoán minh bạch, công khai. Những hành vi này do người có đủ năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý làm ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo Điều 4 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán có quy định hình thức xử phạt gồm:
- Hình thức xử phạt chính: cảnh cáo, phạt tiền, đình chỉ hoạt động giao dịch chứng khoán có thời hạn từ 01 - 12 tháng, tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đăng ký văn phòng đại diện, chứng chỉ hành nghề chứng khoán có thời hạn từ 01 - 24 tháng.
- Hình phạt bổ sung:
+ Đình chỉ hoạt động chào mua công khai; hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng khoán; hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán; hoạt động văn phòng đại diện, hoạt động lưu ký, hoạt động bù trừ và thanh toán chứng khoán; hoạt động giao dịch chứng khoán có thời hạn từ 01 - 12 tháng.
+ Tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đăng ký hoạt động văn phòng đại diện, chứng chỉ hành nghề chứng khoán có thời hạn từ 01 - 24 tháng.
+ Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: tùy theo tính chất, mức độ vi phạm thì tổ chức, cá nhân sẽ áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục sau.
+ Buộc thu hồi chứng khoán đã chào bán, phát hành; hoàn trả cho nhà đầu tư tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc (nếu có) cộng thêm tiền lãi tính theo lãi suất ghi trên trái phiếu hoặc lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng mà tổ chức, cá nhân vi phạm mở tài khoản thu tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc tại thời điểm quyết định áp dụng biện pháp này có hiệu lực thi hành; buộc thu hồi cổ phiếu phát hành thêm; buộc thu hồi chứng khoán đã chào bán, phát hành trong khoảng thời gian vượt quá thời gian quy định; buộc hoàn trả chứng khoán, tiền thuộc sở hữu của khách hàng.
+ Buộc báo cáo, cung cấp thông tin chính xác; buộc hủy bỏ thông tin, cải chính thông tin; buộc giải trình, cung cấp thông tin, số liệu liên quan đến hoạt động kiểm toán....
2.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Truy cứu trách nhiệm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán khi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự, nhằm xử lý và ngăn ngừa hành động lừa đảo, thâu tóm và thao túng thị trường.
Luật Chứng khoán năm 2019 không có điều luật cụ thể quy định về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm phạm luật trong lĩnh vực chứng khoán mà phải căn cứ vào Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như: Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán);....
2.3. Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại phát sinh khi một người (cá nhân, tổ chức) có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khoản 2 Điều 133 Luật Chứng khoán năm 2019: "Chủ thể xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, thực hiện các trách nhiệm dân sự khác theo thỏa thuận, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định khác của pháp luật có liên quan".
Luật Chứng khoán năm 2019 không quy định cụ thể về việc xác định thiệt hại hoặc giá trị tổn thất cũng như thủ tục bồi thường thiệt hại. Việc xác định thiệt hại hoặc giá trị tổn thất sẽ áp dụng theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Ở lĩnh vực chứng khoán, những hành vi vi phạm nào mà gây thiệt hại cho nhà đầu tư đều phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm đó gây ra. Quy định bồi thường thiệt hại này phần nào bù đắp và khắc phục được những tổn thất về kinh tế do hành vi vi phạm gây ra.
3. Bảo vệ nhà đầu tư theo cơ chế giải quyết tranh chấp
Căn cứ tại khoản 1 Điều 133 Luật Chứng khoán năm 2019, quy định như sau: "Trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán bị xâm phạm hoặc có tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán tại Việt Nam thì việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc giải quyết tranh chấp được thực hiện thông qua thương lượng, hòa giải hoặc yêu cầu Trọng tài hoặc Tòa án Việt Nam giải quyết theo quy định của pháp luật."
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư thì áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp là điều cần thiết. Các phương thức giải quyết tranh chấp bao gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc Tòa án.
- Thương lượng: các bên tranh chấp cùng nhau ngồi lại bàn bạc, thỏa thuận để giải quyết những mâu thuẫn mà không có sự tham gia của bên thứ ba.
- Hòa giải: là biện pháp giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba, họ sẽ là người trung gian hòa giải cho các bên tranh chấp.
- Trọng tài: Trọng tài viên đóng vai trò là người thứ ba tiến hành giải quyết mâu thuẫn giữa các bên nếu các bên có thỏa thuận. Hội đồng trọng tài do trung tâm trọng tài tổ chức hoặc do các bên thành lập sẽ quyết định giải quyết tranh chấp của các bên và buộc các bên phải thực hiện.
- Tòa án: là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan nhà nước duy nhất, kết quả giải quyết của Tòa án bằng bản án, quyết định bắt buộc đối với các bên tranh chấp.