1. Quy định về thời hạn tạm giam, thời hạn tạm giữ mới nhất
Tạm giam, tạm giữ là hai phương pháp ngăn chặn trong quá trình tiến hành tố tụng bao gồm tố tụng hình sự và tố tụng hành chính. Trong đó:
– Tạm giam là một biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với bị can, bị cáo được ghi nhận trong pháp luật tố tụng hình sự, cụ thể là tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tạm giam được áp dụng đối với tất cả các tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 và có thể áp dụng đối với tất cả các mức độ nguy hiểm cho xã hội nếu có đủ điều kiện theo luật định.
– Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự hoặc là một biện pháp ngăn chặn, bảo đảm trong xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính 2012. Tuy nhiên trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề tạm giữ trong tố tụng hình sự.
Như vậy ta thấy tạm giam và tạm giữ là hai khái niệm và hai biện pháp vừa có điểm giống nhau vừa có điểm khác nhau chứ không phải là hai khái niệm đồng nhất. Trên thực tế tạm giữ và tạm giam hay bị mọi người nhìn nhận nhầm là giống nhau, đều là cùng một biện pháp và áp dụng trong cả tố tụng hình sự và xử lý vi phạm hành chính chính dẫn đến quyền lợi của mọi người trong một số trường hợp thường không được đảm bảo.
2. Thời hạn tạm giam để điều tra theo quy định
>> Tải ngay: Mẫu đơn xin bảo lãnh cho bị can, bị cáo được tại ngoại
– Thời hạn tạm giam nói trong điều luật là thời hạn tạm giam để điều tra, còn thời hạn tạm giam để hoàn thành bản cáo trạng và thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử được quy định tại các điều 240, 278, 347 Bộ luật tố tụng hình sự.
– Thời hạn tạm giam để điều tra đối với tội ít nghiêm trọng (tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt được áp dụng là từ 3 năm tù trở xuống) là không quá 2 tháng. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực (khi vụ án được thụ lý điều tra ở cấp huyện, cấp khu vực), Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu (khi vụ án được thụ lý điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu) có quyền gia hạn tạm giam một lần không quá 1 tháng. Như vậy, thời hạn tạm giam để điều tra đối với tội ít nghiêm trọng (kể cả gia hạn) tối đa là 3 tháng.
– Thời hạn tạm giam để điều tra đối với tội nghiêm trọng là không quá 3 tháng. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực (khi vụ án được thụ lý điều tra ở cấp huyện, cấp khu vực), Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu (khi vụ án được thụ lý điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu) có quyền gia hạn tạm giam lần thứ nhất không quá 2 tháng.
Trong trường hợp đã hết thời gian gia hạn lần thứ nhất mà vẫn chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực (khi vụ án được thụ lý điều tra ở cấp huyện, cấp khu vực), Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu (khi vụ án được thụ lý điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu) có quyền gia hạn tạm giam lần thứ 2 không quá 1 tháng. Như vậy, thời hạn tạm giam để điều tra đối với tội nghiêm trọng (kể cả gia hạn) tối đa là 6 tháng.
– Thời hạn tạm giam để điều tra đối với tội rất nghiêm trọng là không quá 4 tháng. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực (khi vụ án được thụ lý điều tra ở cấp huyện, cấp khu vực), Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu (khi vụ án được thụ lý điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu) có quyền gia hạn tạm giam lần thứ nhất không quá 3 tháng. Trong trường hợp đã hết thời gian gia hạn lần thứ nhất mà vẫn chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam lần thứ hai không quá 2 tháng. Như vậy, thời hạn tạm giam để điều tra đối với tội rất nghiêm trọng (kể cả gia hạn) tối đa là 9 tháng.
– Thời hạn tạm giam để điều tra đối với tội đặc biệt nghiêm trọng là không quá 4 tháng. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam lần thứ nhất không quá 4 tháng. Trong trường hợp đã hết thời gian gia hạn lần thứ nhất mà vẫn chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam lần thứ hai không quá 4 tháng. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp đã hết thời gian gia hạn lần thứ hai mà không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn tạm giam lần thứ ba không quá 4 tháng. Như vậy, thời hạn tạm giam để điều tra đối với tội rất nghiêm trọng (kể cả gia hạn) tối đa là 16 tháng. Riêng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, do tính chất đặc biệt của loại tội phạm này và xuất phát từ yêu cầu điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (ngoài thời hạn 16 tháng) có quyền gia hạn thêm một lần nữa với thời hạn không quá 4 tháng.
– Trong trường hợp vụ án được thụ lý điều tra ở cấp Trung ương thì việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương.
– Trong khi đang tạm giam, nếu Cơ quan điều tra xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác đối với người bị tạm giam như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh hay đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
Khi đã hết thời hạn tạm giam mà không có gia hạn tạm giam theo quy định của pháp luật thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
3. Thẩm quyền để ra hạn điều tra
Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn điều tra, cụ thể như sau:
+ Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra.
+ Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai.
+ Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;
+ Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.
Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.
4. Thẩm quyền gia hạn tạm giam để điều tra
Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn tạm giam để điều tra, cụ thể như sau:
+ Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
+ Trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ nhất đã hết mà chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
+ Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.
+ Việc gia hạn tạm giam lần thứ 2 đối với các tội xâm phạm an ninh Quốc gia thuộc loại tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và các trường hợp gia hạn tạm giam lần thứ 3 trở đi thuộc thẩm quyền của Viện trưởng VKSNDTC
Đồng thời để đáp ứng yêu cầu đấu tranh với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, BLTTHS 2015 cho phép gia hạn tạm giam đến khi kết thúc điều tra nhưng để bảo đảm chặt chẽ, tránh lạm dụng, thẩm quyền gia hạn tạm giam trong trường hợp này chỉ thuộc Viện trưởng VKSNDTC
5. Về thời hạn tạm giam để điều tra
So với BLTTHS cũ, thời hạn tạm giam để điều tra của BLTTHS 2015 rút ngắn thời hạn tạm giam 1 tháng đối với tội ít nghiêm trọng; 2 tháng đối với tội rất nghiêm trọng.
Thời hạn tạm giam để điều tra được tổng hợp cụ thể theo bảng tính sau:
| Loại tội Thời hạn | Ít nghiêm trọng | Nghiêm trọng | Rất nghiêm trọng | Đặc biệt nghiêm trọng | Các tội xâm phạm ANQG | ||
| Nghiêm trọng | Rất nghiêm trọng | Đặc biệt nghiêm trọng | |||||
| Lần đầu | ≤ 2 tháng | ≤ 3 tháng | ≤4 tháng | ≤4 tháng | ≤ 3 tháng | ≤4 tháng | ≤4 tháng |
| Gia hạn lần 1 | ≤ 1 tháng | ≤ 2 tháng | ≤ 3 tháng | ≤4 tháng | ≤2 tháng | ≤3 tháng | ≤4 tháng |
| Gia hạn lần 2 |
|
|
| ≤4 tháng | ≤4 tháng (thẩm quyền VT Tối cao) | ≤4 tháng (thẩm quyền VT Tối cao) | ≤4 tháng
|
| Gia hạn lần 3 |
|
|
| ≤4 tháng (thẩm quyền VT Tối cao) | ≤ 1 tháng (thẩm quyền VT Tối cao) | ≤2 tháng (thẩm quyền VT Tối cao) | ≤4 tháng (thẩm quyền VT Tối cao) |
| Gia hạn lần 4 |
|
|
|
|
|
| ≤4 tháng (thẩm quyền VT Tối cao) |
| Đặc biệt |
|
|
| Trường hợp đặc biệt có thể gia hạn đến khi kết thúc điều tra (thẩm quyền VT Tối cao) |
|
| Trường hợp đặc biệt có thể gia hạn đến khi kết thúc điều tra (thẩm quyền VT Tối cao) |
| Tối đa | 3 tháng | 5 tháng | 7 tháng | 16 tháng | 10 tháng | 13 tháng | 20 tháng |
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê