1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là gì ?

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ theo khoản 2 điều 27 Bộ Luật Hình sự 2015 thì thời truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau :

- Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng.

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù (khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự).

- Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù (khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự).

- Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù (khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự).

Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

>> Xem thêm:  Dấu hiệu định tội là gì ? Khái niệm về dấu hiệu định tội ?

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây y nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự)Việc xác định tội phạm nào là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng không phức tạp, chỉ cần căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy. Nếu mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù là tội phạm ít nghiêm trọng; đến bảy năm tù là tội phạm nghiêm trọng; đến mười lăm năm tù là tội phạm rất nghiêm trọng; đến chung thân hoặc tử hình là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, trong Bộ luật hình sự không phải tội phạm nào nhà làm luật cũng quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 3 năm, 7 năm, 15 năm, chung thân hoặc tử hình, mà trong nhiều trường hợp nhà làm luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt là một năm, hai năm, bốn năm, năm năm, sáu năm, tám năm, mười năm, mười hai năm và hai mươi năm. Mặc dù Bộ luật hình sự đã có hiệu lực pháp luật gần 10 năm nhưng đến nay vẫn còn quan điểm cho rằng, nếu mức cao nhất của khung hình phạt không phải là 7 năm thì chưa phải là tội phạm nghiêm trọng, không phải là 15 năm thì chưa phải là tội phạm rất nghiêm trọng, không phải là chung thân hoặc tử hình thì chưa phải là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ một năm tù trở lên thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính; thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ

2. Xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

2.1.Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện.

Nếu trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

2.2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tính từ ngày người có hành vi vi phạm pháp luật ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Đây là cách tính được đặt ra trong trường hợp người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã. Điều này là hợp lý vì nếu không quy định cách tính như vậy sẽ xảy ra bất cập là cứ có hành vi vi phạm pháp luật là bỏ trốn, đến khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì quay lại.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong
thời hạn quy định tại khoản 2, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật Hình sự

>> Xem thêm:  Lính đánh thuê là gì ? Quy định pháp luật về lính đánh thuê

quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ
được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

3.Các trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Căn cứ theo điều 28 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về các tội phạm không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể gồm:

1. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật này;

2. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này;

3. Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 của Bộ luật này; tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật này.

Việc quy định các tội phạm không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm trên thể hiện tinh thần kiên quyết không khoan nhượng cho những tội phạm ảnh hưởng đến việc xây dựng và bảo vệ Nhà nước của dân, do dân, vì dân; bảo vệ hòa bình chống chiến tranh xâm lược và phòng chống tội phạm tham nhũng.

4. Trường hợp bị các trường hợp được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự

>> Xem thêm:  Đào ngũ là gì ? Khái niệm đào ngũ được hiểu như thế nào ?

– Các trường hợp người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử mà có căn cứ chứng minh

+ Tình hình, diễn biến sự việc chuyển biến dẫn đến xác định được hành vi của người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

+ Người phạm tội bị mắc các căn bệnh hiểm nghèo nên không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội từ các hành vi của mình nữa.

– Mặc dù có thể thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nêu trên vẫn còn nhưng người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Khi có quyết định đại xá của Chủ tịch Quốc Hội thể hiện sự khaon hồng của Nhà nước;

+ Trong giai đoạn tiến hành điều tra, truy tố, xét xử mà có sự thay đổi trong chính sách Nhà nước, quy định của pháp luật dẫn đến hành vi phạm tội được xác định là không còn nguy hiểm cho xã hội nữa

>> Tư vấn mức án phạt tù đối với từng đồng phạm gọi: 1900.6162

5.Người phạm tội cố tình trốn tránh

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính; thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ (Khoản 3, Điều 27 BLHS 2015). Ví dụ: Mới đây, báo Tuổi trẻ vừa đăng tải vụ án của bà Trần Thị Sáu (59 tuổi) phải đứng trước TAND TP Hà Nội để nghe phán quyết về tội ác mà mình đã gây ra từ cách đây 22 năm trước. Do bế tắc, Sáu thường nghĩ đến chuyện giết chết hai con rồi tự tử để thoát khổ đau. Một ngày đầu tháng 4-1996, Sáu đưa hai con Ngô Thị Hằng, 5 tuổi và Ngô Thị Nga mới hơn 1 tuổi đi lang thang thăm họ hàng. Sau đó Sáu vay của người hàng xóm 4.000 đồng đi mua hai gói thuốc diệt chuột, 10 gói thuốc tẩy sán lợn, một chai nước cam và hai chiếc bánh nướng. Sáu đưa hai con ra con đê của làng rồi đổ thuốc diệt chuột vào chai nước cam cho hai con uống. Sáu tiếp tục đổ thuốc tẩy sán lợn vào chai nước rồi uống cùng ba vỉ thuốc đau đầu. Uống xong, cả ba mẹ con nằm ôm nhau mê man bất tỉnh. Khuya cùng ngày, lực lượng công an đi tuần tra phát hiện ba mẹ con nên đưa đi cấp cứu. Tuy nhiên, hai con của Sáu đã tử vong trước đó. Kết quả giám định cho thấy hai đứa trẻ đáng thương chết vì phù phổi cấp do độc chất, khả năng do uống thuốc chuột Trung Quốc. Khi vụ việc đang trong quá trình điều tra, do sức khỏe còn yếu nên Sáu được cơ quan điều tra cho tại ngoại. Tuy nhiên, do lo sợ sự trừng phạt của cơ quan chức năng, sợ sự bàn tán của bà con lối xóm nên Sáu đã bắt xe bỏ trốn khỏi quê hương. Sáu lưu lạc từ Hà Tây vào tận Lâm Đồng. Tại đây, Sáu giấu biệt tên tuổi và thân phận của mình. Một năm sau, Sáu lấy chồng mới rồi sinh liên tiếp hai con trai. Cuộc sống ở vùng đất mới cũng chật vật không kém, Sáu cũng phải bươn bả đủ thứ nghề để kiếm sống. Rồi người chồng thứ hai cũng qua đời do bệnh. Hai con trai Sáu lớn lên, một đứa đi bộ đội, một đứa đi xuất khẩu lao động. Sáu cứ nghĩ mình đã thoát khỏi sự truy đuổi của cơ quan chức năng, sống yên ổn với gia đình mới. Nhưng rồi ngày 02/02/2018, cả Sáu và bà con lối xóm ở Lâm Đồng bất ngờ khi lực lượng công an đến tận nhà bắt Sáu theo lệnh truy nã từ 22 năm trước.

Như vậy, bà Sáu phạm tội giết người (hơn nữa còn giết từ 2 người trở lên thuộc khung hình phạt tăng nặng) là loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm nên có thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 20 năm. Nếu tính từ ngày tội phạm được thực hiện, tức là đầu tháng 4/1996 thì đến đầu tháng 4/2016 đã hết thời hiệu truy cứu trach nhiệm hình sự đối với hành vi giết người của bà. Tuy nhiên, sau khi giết hai con của mình xong bà Sáu đã bỏ trốn từ Hà Tây vào Lâm Đồng, giấu biệt tên tuổi và thân phận của mình. Nên trong vụ việc này thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi giết người của bà Sáu được tính từ ngày bà Sáu bị bắt (tức ngày 02/02/2018).

>> Xem thêm:  Truy cứu trách nhiệm hình sự là gì ? Quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự?

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ một năm tù trở lên thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ tính lại kể từ ngày phạm tội mới (Khoản 3, Điều 27 BLHS 2015) Ví dụ: Ngày 01/01/2010 Bùi Đình V phạm tội gây rối trật tự công cộng theo khoản 1 Điều 318 BLHS 2015 nhưng chưa bị khởi tố điều tra, đến ngày 10/12/2014, V lại phạm tội trộm cắp tài sản và đến ngày 30/6/2015 cơ quan điều tra mới phát hiện hành vi phạm tội trộm cắp. Nếu căn cứ vào thời hiệu truy trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng thì sau ngày 01/01/2015 là đã hết, nhưng trước đó (10/12/2014) V lại phạm tội mới nên thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội gây rối trật tự nơi công cộng lại được tính từ ngày 10/12/2015 chứ không phải từ ngày 01/01/2010. Vì vậy V phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả hai tội: tội trộm cắp tài sản và tội gây rối trật tự công cộng.

Trên đây là những tư vấn của công ty chúng tôi, mọi thắc mắc vui lòng liên hệ luật sư/ chuyên viên tư vấn trực tiếp qua tổng đài 24/7: 1900.6162 để nhận được sự hỗ trợ, tư vấn của Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu đơn thông báo và yêu cầu bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình s ?

Trả lời:

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ

Câu hỏi: Các hình phạt đối với người phạm tội ?

Trả lời:

1. Hình phạt chính bao gồm:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền;

c) Cải tạo không giam giữ;

d) Trục xuất;

đ) Tù có thời hạn;

e) Tù chung thân;

g) Tử hình.

2. Hình phạt bổ sung bao gồm:

a) Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

b) Cấm cư trú;

c) Quản chế;

d) Tước một số quyền công dân;

đ) Tịch thu tài sản;

e) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;

g) Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

3. Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Câu hỏi: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc là công việc nhất định ?

Trả lời:

Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó thì có thể gây nguy hại cho xã hội.

Thời hạn cấm là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.